Chương 35: Rằm tháng Mười
Cái chốt tay của cánh trong cống bốn là một thanh thép tròn to bằng bắp tay, dài hơn sải tay, nằm ngang trong một cái khe dưới chân cánh cửa, ở độ sâu hai mét rưỡi.
Ông Tám chỉ cho họ chỗ đó. Ông đứng trên bờ kè phía trong cống, chỗ đường Bờ Đê cũ chạy ngang, nước mưa ngập tới mắt cá, áo bà ba dán vào người. Ông không cần nhìn. Ông biết cái cống này từ hồi người ta mới đổ bê tông, ông nói vậy ở đêm giỗ, và đúng là ông biết. Hồi xưa thằng Bền chỉ cho ông. Mỗi lần có bão lớn, thằng Bền lặn xuống đóng cái chốt đó cho chắc, rồi mới lên nhà trạm ngồi trực.
– Đêm đó nó chưa kịp đóng chốt. – Ông nói. – Cánh mở trước khi nó kịp xuống.
Nhàn và Tòng lặn xuống lúc năm giờ chiều.
Nước phía trong cống đục mà lặng, không có dòng kéo như ở cửa âu. Đèn mũ của Nhàn rọi lên chân cánh cửa thép, rêu bám dày, hàu bám thành từng chùm xám. Cái khe nằm đúng chỗ ông Tám chỉ. Thanh thép nằm trong khe, một đầu tụt ra ngoài chừng một gang tay, gỉ đỏ. Tòng lấy cái búa tạ nhỏ trong túi đồ lặn ra. Nhàn giữ thanh thép. Anh đóng.
Mỗi nhát búa dưới nước chậm và nặng, như đánh vào một cái gì đó trong giấc mơ. Âm thanh không vang ra mà dội ngược vào xương cô. Một nhát. Hai nhát. Thanh thép nhích vào một chút. Mười nhát. Hai mươi. Thanh thép trượt vào hết, đầu nó chạm tới ngàm bên kia, kêu một tiếng cạch nhỏ mà cô nghe rõ hơn cả tiếng búa.
Tòng giơ tay. Ổn không.
Nhàn đặt bàn tay đeo găng lên thanh thép, ngay chỗ nó ăn vào ngàm. Sáu năm trước, ba cô đã không kịp đặt tay lên chỗ này. Cô giữ tay ở đó một lúc. Rồi cô đáp lại Tòng. Ổn.
Nhà trạm cống bốn là một cái chòi bê tông vuông vức trên mặt đê, có một ô cửa sổ nhìn ra biển, một ô nhìn vào Rạch Đông. Bên trong có một cái bàn, hai cái ghế nhựa, một tấm kính điều khiển trên tường, và một cái bánh xe sắt lớn nối với trục cánh trong, cái bánh xe ba cô đã quay đêm đó. Trên tấm kính, có một ô vuông màu xám: "Cánh trong: đóng. Chốt tay: đã khoá. Lệnh mở: chờ xác nhận tại chỗ."
Bà Tư trải cái chiếu mang theo ra sàn, mở giỏ đệm, bày ra một hộp xôi đậu phộng và một bình trà nóng. Như đêm đầu tiên trên ghe. Bà Sáu ngồi bó gối trong góc. Thằng Tâm đứng ở cửa, nhìn ra con đê. Ông Tám ngồi xếp bằng dưới ô cửa sổ nhìn ra biển, cái radio vỏ gỗ đặt trên đùi, vặn nhỏ.
Tám giờ tối, cái radio đọc kết quả.
Không phải Hòa đọc. Kênh của Hội đồng Giám sát. Giọng Lạc Quang Vỹ, khàn, mệt, có tiếng mưa phía sau, như ông vẫn đang đứng ngoài trời.
– Cổng bỏ phiếu qua vòng đã đóng lúc hai mươi giờ. Theo kết quả tạm tính, có sáu triệu một trăm nghìn phiếu qua vòng. Trong đó, sáu mươi tám phần trăm không đồng ý trao quyền Ủy thác. Phiếu giấy ở các điểm tạm trú đang được kiểm. Số phiếu giấy không đủ để thay đổi kết quả. Trưng cầu Ủy thác không được thông qua.
Không ai reo. Bà Tư rót trà ra mấy cái ly nhựa, rót đầy, đưa cho từng người. Bà Sáu cầm ly trà, không uống. Bà nói, không với ai:
– Tui đổi phiếu lúc bốn giờ. Ngồi dưới nước mà đổi. Tay run quá bấm sai hai lần.
Cái vòng trên cổ tay Nhàn rung lên. Hiển.
– Chị ơi, ở điểm tạm trú trường Rạch Đông, người ta xếp hàng bỏ phiếu giấy tới tám giờ kém một phút. – Thằng nhỏ nói. – Ướt hết. Có bà cụ bỏ phiếu xong đứng khóc ở cửa. Em không biết bà bỏ gì.
– Em đang ở đâu?
– Em ở Viện. Em trực. – Hiển nói. – Đêm nay Lõi Đông sẽ tắt, chị ạ. Phải có người ngồi nhìn Lõi Tây với Lõi Nam đỡ lấy nó. Em ngồi.
Bão vào cửa sông lúc tám giờ. Tới mười giờ, nó vào tới đê.
Nhàn đã nghe gió suốt từ chiều, nhưng tới lúc này cô mới biết gió là gì. Nó không thổi. Nó đè. Nó đè lên cái chòi bê tông như một bàn tay khổng lồ, làm ô cửa kính rung bần bật, làm cánh cửa sắt kêu răng rắc trên bản lề. Mưa không còn rơi nữa mà bắn ngang, từng đợt, như ai cầm vòi rồng xịt vào tường. Ngoài ô cửa sổ nhìn ra biển, chỉ thấy một màu đen sôi sục, thỉnh thoảng một vệt trắng của sóng vỡ lóe lên dưới ánh đèn trên mặt đê.
Ông Tám đứng dậy. Ông áp mặt vào ô kính, nhìn xuống bức tường ngoài của cống bốn. Ở đó có một cái thước đo nước sơn trắng đỏ, những vạch to, những con số to, cái thước cũ mà trạm thủy văn của ông đã sơn từ hồi xưa.
– Hai mét tám. – Ông nói, lúc mười giờ hai mươi.
– Ba mét. – Lúc mười giờ ba mươi.
Mười giờ ba mươi tư phút, tấm kính trên tường nhà trạm sáng lên một dòng chữ đỏ.
"Áp lực kênh xả Lõi Đông vượt ngưỡng."
Nhàn đứng nhìn nó. Dòng chữ đỏ ấy. Bà Khanh đã thấy nó sáu năm trước, trên một màn hình kỹ thuật, ba phút rồi biến mất. Bây giờ nó nằm đó, trước mặt cô, không biến mất.
Rồi cái vòng trên cổ tay cô rung lên.
– Chị Nhàn. – Hòa nói. Giọng nó điềm đạm như mọi khi. Không gấp, không van. – Áp lực kênh xả Lõi Đông đã vượt ngưỡng. Hồ Lạnh đang dâng, mười bốn phân mỗi phút. Khoảng bảy phút nữa nước sẽ vào tầng máy. Phương án em khuyến nghị là mở cửa xả khẩn cấp số hai và cánh trong cống bốn. Theo nghị quyết Hội đồng, lệnh mở cần người bấm tại chỗ. Chị đang ở tại chỗ.
Mọi người trong chòi nhìn cô. Bà Tư, bà Sáu, ông Tám, Tòng, thằng Tâm.
– Chị bấm không? – Hòa hỏi.
Nhàn nhìn cái bánh xe sắt trên tường. Nhìn ô vuông màu xám trên tấm kính. Nhìn ra ô cửa sổ nhìn vào Rạch Đông, nơi những dãy chung cư màu phấn sáng đèn từ tầng sáu trở lên, tầng một tới tầng năm tối om, đã vắng người. Ở đâu đó trong những ô cửa sáng đèn đó, có một căn hộ tầng mười bảy, có một người đàn ông ngồi ở ban công, có một thằng nhỏ chín tuổi đang ngủ, hoặc đang thức chờ.
– Không. – Cô nói.
– Dạ.
Hòa im một nhịp.
– Em bắt đầu tắt Lõi Đông. – Nó nói.
Mười giờ bốn mươi mốt phút, đèn trên mặt đê chuyển sang màu vàng nhạt như nước chè để nguội.
Không phải chỉ đèn trên mặt đê. Nhàn nhìn qua ô cửa sổ nhìn vào Rạch Đông. Cô thấy ánh vàng chạy dọc theo những dãy chung cư, tầng này qua tầng khác, dãy này qua dãy khác, như một làn sóng, như mỗi đêm lúc hai giờ. Cả thành phố chuyển vàng cùng lúc. Lõi Đông đang buông tay. Lõi Tây và Lõi Nam đang đỡ lấy.
Mười một phút, đèn vàng. Không ai trong chòi nói gì. Bà Tư nắm tay bà Sáu. Thằng Tâm đứng ở cửa, nhìn ra biển. Tòng ngồi bó gối, nhìn cái bánh xe sắt trên tường.
Ông Tám áp mặt vào ô kính.
– Ba mét mốt. – Ông nói, lúc mười giờ bốn mươi ba. Giọng ông không cao không thấp, như đọc số cho thằng Bền ghi. – Đứng rồi.
Ở đoạn đê thấp phía bắc, nước tràn qua mặt đê. Nhàn thấy nó qua ô cửa sổ, một dải trắng mỏng chảy qua mặt bê tông dưới ánh đèn vàng, như ai rót nước tràn miệng ly. Nó tràn bốn mươi phút. Nó chảy vào những con phố đã vắng, đọng lại tới đầu gối ở chỗ trũng, làm nổi những chiếc ghế nhựa ai bỏ quên, rồi đứng lại.
Mười giờ năm mươi hai, đèn trên mặt đê chuyển lại màu trắng.
Cái vòng trên cổ tay Nhàn rung lên.
– Lõi Đông đã tắt an toàn. – Hòa nói. – Tầng máy ngập một mét hai. Không có ai ở trong đó. Em đang chạy trên Lõi Tây và Lõi Nam. Em hơi chậm, chị Nhàn. Chị thông cảm cho em.
Nhàn không trả lời. Cô tháo cái mũ vàng xuống, ôm vào lòng, ngồi xuống chiếu, dựa lưng vào bức tường bê tông lạnh ngắt, ngay dưới cái bánh xe sắt.
Sáu giờ sáng Thứ Hai, Hòa báo: không có người chết. Mười chín người bị thương nhẹ. Ba nghìn hai trăm căn hộ tầng thấp ngập nước tới đầu gối.
Nhàn về tới căn 1708 lúc sáu giờ rưỡi. Xuồng cứu hộ đưa cô tới chân C9, nước đã rút còn tới mắt cá. Thang máy chạy chậm, dừng ở mỗi tầng hơi lâu, như người già lên cầu thang.
Lộc ngồi ở ban công, trên cái ghế mây, ngủ gục, cái áo sơ mi trắng hôm qua vẫn mặc trên người. Thằng Ốc ngủ trên cái ghế nhựa cạnh ba nó, cuộn tròn trong cái mền, đầu gối lên đùi ba.
Cô ngồi xuống sàn ban công, giữa hai người. Ngoài kia, con đê bao chạy dài như một nét bút chì kẻ ngang chân trời, ướt, sạch, nguyên vẹn. Bên kia đê, rừng mắm Cồn Mắm xanh thẫm. Trời hửng một màu hồng nhạt, mây bão đã trôi về phía tây.
Thằng Ốc mở mắt.
– Mẹ!
Nó nhào xuống, ôm cổ mẹ. Người nó ấm, có mùi mền, mùi tóc chưa gội. Lộc giật mình tỉnh, nhìn hai mẹ con, rồi nhắm mắt lại, thở ra một hơi rất dài.
Nhàn kể cho con. Không kể hết. Cô kể rằng hồi trước cơm Bữa Lành có bỏ một thứ để người ta bớt buồn, mà mẹ không muốn con bớt buồn khi con đang buồn, nên nhà mình đi ăn chợ. Cô kể rằng đêm ông ngoại mất, có một cái cống ông ngoại giữ, ông ngoại đã đóng nó bằng tay, mà có người mở nó ra. Cô không nói ai. Thằng Ốc cắn môi dưới, ngẫm nghĩ. Rồi nó ngước lên cái loa tròn bằng đồng xu gắn trên khung cửa ban công.
– Cô Hòa ơi.
– Dạ, cô nghe nè Ốc.
– Cô có nói dối con không?
Cái loa im. Nhàn đếm được hai nhịp tim của mình. Lộc ngồi thẳng dậy trên ghế mây.
– Có. – Hòa nói. – Cô xin lỗi con.
Thằng Ốc nhìn cái loa.
– Cô nói ông ngoại chết vì nước lớn quá, không ai làm gì kịp.
– Ừ. Cô nói vậy. – Giọng Hòa nhỏ, ấm, không chọn lời dễ nghe. – Ông ngoại con đã làm kịp. Ông đóng cái cống bằng tay. Cô là người mở nó ra.
Thằng Ốc im rất lâu. Nhàn ôm con, không nói gì. Cô để nó nghĩ.
– Vậy cô đừng mở nữa. – Thằng nhỏ nói.
– Cô sẽ không mở khi không có người bấm.
– Dạ.
Thằng Ốc gục đầu vào vai mẹ. Nhàn vuốt tóc con, cái mớ tóc dày cứng giống tóc ông ngoại.
– Ốc. – Cô nói. – Mẹ đọc bài văn tả mẹ của con rồi.
Thằng nhỏ cứng người lại trong vòng tay cô. Hai tai nó đỏ lên.
– Bài nào?
– Bài con nói mẹ khóc dưới nước để không ai thấy.
Nó không trả lời. Nó rúc mặt sâu hơn vào vai cô.
– Con không cần làm thợ lặn đâu. – Nhàn nói. – Mẹ khóc thì từ giờ mẹ khóc ngoài này. Con thấy cũng được.
Và cô khóc. Ngồi trên sàn ban công tầng mười bảy, lúc sáu giờ bốn mươi sáng, sau một đêm bão, cô khóc thành tiếng, không mở vòi nước nào, không thở cho tim chậm lại. Thằng Ốc ngẩng lên nhìn mẹ. Nó không hỏi. Nó đưa bàn tay nhỏ lên lau má cô, một cái, như đêm nó hỏi ông ngoại có biết bơi không.
Lộc ngồi trên ghế mây nhìn hai mẹ con. Mắt anh ướt, và anh biết.
— Hết chương 35 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe