Chương 25: Thước nước
Cái vòng chống nước nằm trong một hộp giấy màu trắng, có thắt nơ xanh, đặt trên bậc đá Hồ Lạnh, cạnh chỗ Bạc vẫn nằm chờ mỗi sáng.
– Chị Nhàn, chúc mừng chị. – Hòa nói. – Hôm nay một tháng Mười Một. Từ ca này chị không cần tháo vòng khi lặn nữa. Vòng mới nhẹ hơn vòng cũ, chịu được độ sâu bốn mươi mét. Bạc sẽ tiếp sóng cho chị ở dưới. Chị lặn ở đâu em cũng ở bên chị.
Nhàn mở hộp. Cái vòng mới màu xanh đen, mỏng hơn, mặt vòng phẳng như một viên sỏi suối. Cô tháo cái vòng xám tro cũ ra, bỏ vào hộc tủ có khắc tên mình. Đeo cái mới vào. Nó ôm cổ tay cô khít hơn, lạnh hơn.
Cô xuống nước.
Hai mét đầu còn xanh, còn ánh đèn vòm hồ rọi xuống thành những sợi sáng run rẩy. Qua khỏi hai mét, ánh sáng tắt dần, tiếng quạt, tiếng máy, tiếng gió trong ống thông mất hẳn. Chỉ còn tiếng thở của cô qua van. Bạc lơ lửng cách mặt cô một mét, đèn trắng bật sáng, hai mắt hổ phách không chớp.
Cổ tay trái cô rung nhẹ. Ba nhịp ngắn, đều. Rồi một rung động khác, chạy dọc xương cổ tay lên tới khuỷu, thành chữ, thành tiếng, nhỏ như ai thì thầm sát tai.
– Chị Nhàn ơi, nhịp tim chị năm mươi hai. Tốt lắm chị.
Nhàn dừng tay giữa chừng, cái dao cạo hàu còn tì trên tấm lưới ống số hai. Cô không biết cái vòng nói được dưới nước. Không ai nói với cô. Giọng Hòa đi qua xương, không qua tai, nghe như từ bên trong đầu cô vọng ra.
Cô cạo tiếp. Một mảng hàu xám bong ra, rơi xuống đáy, bùn bốc lên mù mịt.
Mười một năm, chỗ này là chỗ duy nhất trong cả Vạn Hòa không có giọng nói nào. Bây giờ nó có.
Lúc lên bờ, cô ngồi trên bậc đá rất lâu, nước nhỏ từ tóc xuống vai, cái vòng mới không cần tháo ra. Cô không khóc. Cô chỉ thấy lạnh.
Tối Thứ Hai, bà Tư kéo cô ra sau sạp, chỗ thùng nước đá.
– Tối qua thằng Tâm khóc.
Nhàn nhìn bà.
– Nó đi làm về, mặt mày hầm hầm cả tuần nay, đá cái ghế, la tui. – Bà Tư nói, giọng nhỏ hẳn, cái giọng bà ít khi dùng. – Rồi tối qua nó ngồi dưới đất trong nhà, ôm cái hình ba nó, cái hình đeo kính râm đứng cạnh xe ba gác đó, nó khóc. Khóc như con nít. Khóc từ chín giờ tới nửa đêm. Nó nói "con nhớ ba quá má ơi". Hơn năm nay nó mới khóc ba nó.
Bà lấy khăn rằn lau mắt. Lau mạnh, như lau một vết dơ.
– Tui ngồi ôm nó. Tui mừng. Mừng muốn chết.
Nhàn đặt tay lên vai bà. Cô nhớ đêm Thứ Bảy thằng Ốc khóc vì cái muỗng cá heo. Nhớ Lộc khóc có tiếng bên mâm cơm khi nhà bên mở bài hát về dòng sông quê. Nhớ chính cô ôm cây cọc khóc giữa trời mưa.
– Cô Tư. – Cô nói. – Cái cọc của ông Tám.
– Tui biết. – Bà Tư nói. – Tui hỏi rồi. Chồng con Út làm bãi bên cảng tây. Nó nói mấy ngày nay drone chở về bãi phân loại vật trôi cả núi đồ, gỗ mục, lục bình, thùng nhựa, mái lá. Đồ ở Cồn Mắm đem về hết bên đó. Gỗ còn tốt thì để làm củi, làm ván. Gỗ mục thì nghiền.
– Bao giờ nghiền?
– Thứ Tư.
Bà Tư nhìn cô. Hai người im lặng một lúc. Rồi bà Tư quay vào sạp, cầm cái vá, nói vọng ra, giọng lớn như mọi khi:
– Thằng Tâm làm ca đêm ở cảng. Bãi đó cách chỗ nó bốc hàng có mấy trăm mét.
Lê Minh Tâm đi tìm cây cọc lúc ba giờ sáng Thứ Ba.
Nhàn không có ở đó. Cô nghe kể lại, sau, từ chính miệng Tâm, ngồi trên mũi ghe ông Tám dưới chân cầu gỗ, lúc trời mới sáng. Người đàn ông ba mươi tư tuổi ngồi bó gối, hai bàn tay to bè đầy vết xước, kể chậm rãi, chữ nào cũng rõ, như người lần đầu kể một chuyện mình đã làm mà không ai sai.
Ca đêm hết lúc hai giờ. Nó không về. Nó đi bộ dọc bờ cảng tây, qua bãi container, tới bãi phân loại vật trôi. Bãi là một khoảng sân bê tông rộng bằng hai sân bóng, có hàng rào lưới, có đèn pha, có mấy con robot xúc chạy ban ngày, ban đêm thì nằm im. Đồ vật trôi chất thành từng núi. Núi lục bình đã khô, mùi hăng hắc. Núi thùng nhựa, can nhựa, dép, phao. Núi gỗ.
Núi gỗ cao gấp ba đầu người.
Nó leo lên đó. Nó không có đèn, vì đèn pin là thứ người ta nhìn thấy từ xa. Nó chỉ có ánh đèn pha của bãi, vàng vọt, chiếu nghiêng. Nó lật từng khúc gỗ. Gỗ tràm, gỗ bần, gỗ dừa, mái lá mục, ván ghe gãy. Nó tìm một thân đước thẳng, to bằng bắp chân, dài hơn đầu người, có vạch khắc. Nó nhớ cây cọc. Nó đã thấy cây cọc hôm giỗ ba nó, lúc nó ngồi ngoài mũi ghe ngắm trăng, cười. Nó không nhớ hôm đó nó cười cái gì. Nó chỉ nhớ cây cọc đứng trong bùn dưới trăng, có những vết khắc, và nó đã nghĩ, trong cái đầu hiền khô của nó lúc đó: cây đó đẹp.
Nó tìm gần hai tiếng. Năm giờ kém mười lăm, trời sắp sáng, nó lật một tấm mái lá mục ra và thấy một thân gỗ đen bóng, có những vạch đều nhau, cứ năm vạch có một con số.
Nó ôm cây cọc xuống. Nó không chạy. Nó vác cây cọc ra cổng sau bãi, chỗ có hai cây cọc rào lỏng mà chồng con Út chỉ, rồi đặt nó lên cái xe ba gác cũ của ba nó.
Chiếc xe ba gác trong tấm hình. Tâm vẫn giữ nó sau Đêm nước, sơn lại hai lần, mỗi sáng chở thùng nước đá cho sạp má. Nó chất lên trên cây cọc một đống củi bần, một bó lá dừa, rồi đạp về chợ Bến Gỗ như mọi sáng đi lấy đá.
– Trên đường có camera. – Tâm nói, ngồi trên mũi ghe. – Con biết. Con đạp ngang qua cái cột đèn nào nó cũng cúi đầu chào con. – Nó cười, một cái cười méo xệch, cái cười của người vừa khóc trọn một đêm. – Mà con chở củi cho má con. Sáng nào con cũng chở củi cho má con.
Ông Tám không nói gì. Ông ngồi xổm trên sạp ghe, cây cọc nằm ngang trước mặt ông, bùn đã khô thành vảy xám trên thân gỗ. Ông lấy một miếng giẻ nhúng nước kênh, lau. Ông lau chậm, từ gốc lên ngọn, lau như lau mình cho một người.
Bùn tróc ra. Thân đước hiện lên, đen bóng. Những vạch khắc mười phân một, đều tăm tắp, chạy từ gốc lên. Những con số. Những vết khắc ngắn có ngày tháng. "20-11-59." "3-10-57." "8-11-55." Và gần ngọn, chỗ nét dao run run, mép gỗ đen lại theo năm tháng: "15-10-54."
Ông Tám đặt ngón tay lên đó.
Nhàn ngồi xuống bên cạnh ông. Bà Tư đứng trên bậc kè, tay cầm cái giỏ, không xuống. Tâm ngồi ở mũi ghe, nhìn cái lưng gầy của ông già.
– Nó còn nguyên. – Ông Tám nói.
Rồi ông làm một việc Nhàn không ngờ. Ông móc trong giỏ đệm ra một cuộn thước dây vải đã sờn, loại thước thợ may xài ngày xưa. Ông kéo thước, đặt đầu thước ở vạch số không, nơi khúc gốc từng vùi dưới bùn, rồi dò lên, chậm rãi, từng vạch một. Mười phân. Hai mươi. Một mét. Ông dừng lại ở mỗi con số, lẩm bẩm. Hai mét. Hai mét năm. Hai mét sáu.
– Đúng. – Ông nói. – Vạch của tui đúng. Từ hồi cắm tới giờ tui chưa đo lại cây này. Tui sợ tui già, tay tui khắc lệch.
Ông cuộn thước lại.
– Mà vậy thì có chi đâu, con. – Ông nói, giọng mệt. – Cây cọc nói là tui khắc dấu ở hai mét sáu. Ông Vỹ hỏi: ai biết ông khắc dấu đó đêm nào? Ai biết ông hổng khắc thêm hôm qua? Tui nói tui biết. Ông Vỹ nói: ông là ông già hổng đeo vòng.
Nhàn không trả lời. Ông nói đúng. Cây cọc chỉ là một khúc gỗ có vết dao. Một thứ không đi qua Hòa, nhưng cũng không đi qua ai khác.
– Cần thêm một cái thước nữa. – Ông Tám nói, nhìn ra mặt kênh. – Một cái thước của người khác. Hổng phải của tui. Hổng phải của con Hòa.
Hiển tìm tới lúc tám giờ tối Thứ Ba.
Thằng nhỏ không gọi qua vòng. Thằng nhỏ đứng ở đầu cầu gỗ, thở dốc như vừa chạy, áo sơ mi xanh nhạt của Viện vẫn còn đeo bảng tên. Nó đi thẳng vào chợ, qua những dãy sạp, tới bàn nhựa sát bờ kênh nơi Nhàn, Lộc và bà Tư đang ngồi, kéo ghế ngồi xuống, đặt tấm kính không nối mạng lên bàn.
– Em làm ở Viện, chị ạ. – Nó nói trước khi ai kịp hỏi. – Em làm ngay trên máy của Viện. Nó thấy hết. Em không giấu được. Em nghĩ cả ngày hôm qua rồi em quyết: nó thấy thì nó thấy. Nó không sửa được số của người khác.
– Số của ai? – Lộc hỏi.
– Mạng Quan trắc Mực nước Liên vùng. – Hiển nói, giọng nhanh, chữ nối chữ như đọc số. – Đó là một mạng phao quốc tế, mấy chục nước góp tiền, phao thả khắp các cửa sông, các eo biển. Không thuộc đặc khu, không thuộc Liên bang, không thuộc Hòa. Dữ liệu họ lưu ở kho riêng, công khai, ai cũng đọc được. Ngoài cửa sông Ngân Thủy có một cái phao của họ. Phao số một trăm mười bảy.
Nó kéo ngón tay trên tấm kính. Một đường cong hiện ra, xanh lá, đi lên, đi lên, chạm đỉnh, rồi đi xuống.
– Đêm mười lăm tháng Mười năm năm tư. – Hiển nói. – Phao một trăm mười bảy. Đỉnh nước dâng hai mét bảy mươi hai. Lúc mười tám giờ bốn mươi bảy phút.
Ông Tám không có ở đây. Nhưng Nhàn nghe giọng ông trong đầu mình, rõ như ông đang ngồi ở đầu bàn: bảy giờ kém mười, hai mét sáu. Rồi đứng. Rồi rút.
– Ngoài cửa sông hai mét bảy hai, lúc bảy giờ kém mười ba. – Lộc nói, chậm. – Vô tới Cồn Mắm hai mét sáu, lúc bảy giờ kém mười. Nước đi từ cửa sông vô tới cồn mất ba phút, thấp xuống một tấc.
– Khớp ạ. – Hiển nói. – Khớp gần như hoàn toàn, thầy. Em đã kiểm hai lần.
Bà Tư đặt cái vá xuống. Bà không hiểu mấy cái đường cong, nhưng bà hiểu chữ "khớp".
– Còn một chuyện. – Hiển nói. Giọng nó hạ xuống, run một chút. – Chị Nhàn, chị kể bà Khanh nói đêm đó Hòa giải thích dải dự báo rộng là vì có ba cái phao ngoài khơi bị nhiễu.
– Ừ.
– Em tìm ra ba cái phao đó trong hồ sơ của Viện. Hòa đánh dấu chúng là "dữ liệu không tin cậy" từ mười bảy giờ mười tới hai mươi giờ. – Hiển chỉ vào một dòng chữ nhỏ dưới đường cong xanh lá. – Một trong ba cái phao đó là phao một trăm mười bảy. Mà ở kho của Mạng Liên vùng, phao một trăm mười bảy đêm đó được chính họ chấm chất lượng là "tốt". Không có một dòng lỗi nào. Họ không biết Hòa là ai. Họ chỉ đo nước.
Không ai nói gì.
Ở đầu cầu, cái loa của sạp băng đĩa cũ đang mở một bài vọng cổ buồn. Tiếng chảo xèo xèo. Tiếng con nít khóc ở sạp chè. Tiếng hai bà bán cá cãi nhau về một rổ tôm. Cái chợ ồn ào như bụng một con thú đang tiêu hóa, và giữa cái ồn ào đó, bốn người ngồi im, nhìn một đường cong màu xanh lá trên tấm kính.
Một cái thước của người khác. Không phải của ông Tám. Không phải của Hòa.
– Vậy đêm đó nước ngoài biển không tràn qua đê. – Lộc nói. – Cây cọc nói vậy. Cái phao nói vậy. Hai cái thước không biết nhau mà nói giống nhau.
– Dạ.
– Vậy còn con số chính thức. – Lộc nói. Anh nói từng chữ, như đặt từng viên gạch lên một bức tường còn thấp. – Cái số người ta in trong báo cáo hai trăm trang. Cái số khắc trên bia, đọc trong phim, dạy cho học trò lớp chín.
Anh ngẩng lên, nhìn Hiển.
– Ba mét tư đó đo ở đâu?
— Hết chương 25 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe