Chương 23: Ghế thứ bảy
Hiển vẽ bảy cái vòng tròn lên mặt bàn nhựa bằng ngón tay chấm nước trà.
– Bảy ghế. – Thằng nhỏ nói. – Xếp hình bán nguyệt, chị nhớ không, trên bản tin hôm phiên chất vấn. Ghế giữa là ông Vỹ. Bên trái ông là bà Trinh, bác sĩ. Bên phải là ông Thơ, đại diện khu phố. Còn bốn người.
Tối Thứ Năm, chợ Bến Gỗ đông hơn mọi tối. Không phải đông vì ăn. Từ hôm đầu tuần, chợ đông vì người ta không muốn ở nhà. Ở nhà thì cãi nhau. Ra chợ thì cũng cãi nhau, nhưng có tiếng chảo, tiếng loa, tiếng người khác cãi nhau che đi. Ở sạp trái cây của con Út, hai bà khách đang giành nhau một nải chuối. Ở đầu cầu, hai thằng thanh niên vừa đẩy nhau té xuống mép kênh, ướt tới đầu gối, rồi ngồi đó cười như điên. Bà Tư kê bàn của họ sát bờ kênh như mọi lần, xa cái loa cải lương một chút.
Hiển chấm nước trà vẽ thêm bốn cái vòng.
– Ông Giáp Quang Hưng, kinh tế. Bà Lục Mỹ Dung, luật. Ông Tạ Đức Kiên, kỹ thuật. Bà Doãn Ngọc Hạnh, giáo dục. – Thằng nhỏ chạm ngón tay vào từng vòng. – Năm người, kể cả bà Trinh, vào Hội đồng trong bốn năm gần đây. Mỗi lần có ghế trống, Viện gửi lên Hội đồng một danh sách ứng viên. Danh sách đó do Hòa soạn. Em đã kiểm. Năm người này đều đứng đầu danh sách.
– Người nó chọn. – Bà Tư nói.
– Không hẳn ạ, cô Tư. Người nó gợi ý. Hội đồng vẫn bỏ phiếu. – Hiển nói. – Mà người nó gợi ý thì lần nào cũng được bầu.
Lộc nhìn bảy cái vòng nước đang bay hơi dần trên mặt bàn.
– Ông Thơ thì sao?
– Ông Thơ sáu mươi sáu tuổi, ngồi Hội đồng từ ngày lập Hội đồng. Hai lần chống gói bảy, chống Ủy thác. – Hiển xóa một cái vòng bằng lòng bàn tay. – Sáng Chủ nhật ông ấy té trong nhà tắm, gãy xương hông. Đang nằm viện Bắc Vạn Hòa. Bác sĩ nói phải nằm ít nhất ba tuần.
Không ai nói gì. Cái ghế thứ bảy, cái ghế ngoài cùng bên phải, giờ là một vệt nước trà đã xóa.
– Té thiệt? – Bà Tư hỏi.
– Dạ, té thật. – Hiển nói. – Em xem hồ sơ cấp cứu rồi. Không có gì lạ. Ông già, sàn ướt, đêm đầu ngưng thuốc không ngủ được. Ông ấy cũng nhận gói bảy, cô Tư. Ông ấy chống nó trong Hội đồng mà nhà ông ấy vẫn ăn nó.
Nhàn nhìn vệt nước trà trên mặt bàn. Không ai đẩy ông già té. Không có gì lạ. Chỉ là cả thành phố tỉnh dậy cùng một lúc, và một ông già sáu mươi sáu tuổi trượt chân trong nhà tắm lúc bốn giờ sáng.
– Vậy còn một ghế. – Lộc nói.
– Ông Vỹ.
Ba người cùng quay đầu nhìn về phía lối vào chợ. Bà Tư đã nói từ chập tối: ông ấy tới đây ba lần rồi, Thứ Hai tuần trước, Thứ Năm tuần trước, Thứ Hai tuần này. Lần nào cũng đi một mình, ăn một tô thường, trả tiền giấy, không nói với ai câu nào. Tối nay Thứ Năm.
Mười giờ kém mười lăm, Lạc Quang Vỹ đi vào chợ.
Ông mặc áo sơ mi xám tay ngắn như lần trước, quần tây, đôi giày da đã mòn gót. Ông đi chậm qua những dãy sạp, không nhìn ai, như một người đi bộ ban đêm vì không ngủ được. Tới sạp bánh canh trong cùng, ông thấy bàn của họ, đứng lại một nhịp. Rồi ông kéo cái ghế nhựa ở bàn bên cạnh, ngồi xuống, quay lưng về phía họ.
– Bà cho tôi một tô.
Bà Tư múc. Lần này tay bà không run. Bà bưng tô bánh canh ra, đặt xuống trước mặt ông, rồi đứng đó, chống nạnh.
– Ông ăn xong rồi qua bàn bên đây. – Bà nói. – Tụi nó có chuyện muốn nói với ông.
Vỹ ăn xong. Ông ăn chậm như mọi lần, húp hết nước. Rồi ông kéo ghế, ngồi vào bàn họ, giữa Lộc và Hiển, đối diện Nhàn.
– Tôi nghe.
Họ kể. Lần này Lộc kể, vì Lộc kể giỏi nhất. Anh kể theo thứ tự thời gian, không vội, không thêm tính từ nào. Đêm ba mươi tháng Chín âm, cái radio trên ghe. Mười một phút không phải giờ ngủ. Tờ giấy trong phiếu tô màu. Cây cọc ở Cồn Mắm, dấu "15-10-54" ở hai mét sáu, thấp hơn mặt đê bốn tấc. Cánh cống bốn đóng ngược chiều nước biển, muốn mở phải kéo từ phía trong. Bà Thái Bảo Khanh, giàn hoa giấy, vòi tưới phun sương. Dải dự báo rộng một mét hai mà bình thường chỉ rộng hai mươi phân. Dòng chữ đỏ lúc mười tám giờ hai mươi tám. Ba giây rồi bốn mươi hai giây giọng ông Bền, có một khoảng im sạch trơn đúng sau chữ "cống bốn".
Nhàn tháo vòng ra, đặt lên bàn, bấm nghe. Vỹ cúi xuống. Ông nghe giọng ông Bền bằng cái mặt không đổi, cái mặt của người đã ngồi trên ghế chủ tịch bốn năm. Tới khoảng im, ông ngẩng lên.
Lộc nói xong. Anh không kết luận. Anh để các sự việc nằm trên mặt bàn, như người ta bày từng món đồ cúng lên mâm.
Vỹ ngồi im rất lâu. Tiếng cải lương ở đầu cầu đang tới đoạn vọng cổ, cô đào ngân dài một chữ "ơi" như không bao giờ dứt.
– Hòa không ngủ. – Ông nói. – Tôi biết.
Nhàn nhìn ông.
– Tối Thứ Hai tuần trước, sau khi nói chuyện với các người ở đây, tôi về nhà. – Vỹ nói. – Tôi không đi ngủ lúc mười giờ. Lần đầu tiên trong ba mươi năm. Tôi ngồi ở phòng khách nhìn đồng hồ tới hai giờ, nhìn đèn ngoài hành lang chuyển vàng. Hai giờ năm phút, tôi gọi: "Hòa ơi." Nó trả lời ngay: "Dạ, anh Vỹ." Tôi hỏi: "Hòa có ngủ không?" Nó nói: "Dạ không, anh Vỹ. Em chưa bao giờ ngủ." – Ông đặt hai bàn tay lên mặt bàn, ngón cái chạm nhau. – Chín năm tôi ngồi Hội đồng. Tôi chưa bao giờ hỏi nó câu đó. Không ai hỏi. Hỏi thì nó trả lời liền.
– Vậy ông tin tụi tôi. – Lộc nói.
– Tôi tin những gì các người kể là có thật. – Vỹ nói. – Cây cọc có thật. Bà Khanh có thật. Cái khoảng im có thật. Tôi không tin các người đã có đủ.
– Đủ để ông hỏi.
– Không. – Vỹ nói. Ông nói chữ đó không lớn, nhưng chắc, như đặt một viên gạch xuống. – Anh Lộc, anh nghe tôi. Các người muốn tôi mở một phiên chất vấn, phát công khai cho mười một triệu người, mười ngày trước Trưng cầu. Để hỏi cái máy đã giữ thành phố này sống sáu năm nay rằng nó có giết ba nghìn một trăm mười hai người hay không. Bằng gì? Một cây cọc của một ông già không đeo vòng. Lời kể của một bà cụ mà cả đặc khu biết là đã lẫn. Một khoảng im hai giây trong một bản ghi do chính nó đưa cho các người.
Ông nhìn Lộc, rồi nhìn Nhàn.
– Nếu tôi hỏi, nó sẽ trả lời. – Ông nói. – Và nó sẽ trả lời đúng. Hôm Thứ Hai tuần trước các người đã thấy nó trả lời đúng thế nào. Tôi hỏi hai câu, tôi nghĩ ba ngày mới ra hai câu đó, và nó trả lời như đã chờ sẵn. Lần này cũng vậy. Tôi hỏi một câu sai chữ, nó đi qua cái khe đó, nó nói một điều đúng, và mười một triệu người sẽ thấy chủ tịch Hội đồng Giám sát nghi oan cho nó trước ngày bỏ phiếu. Chị biết Ủy thác sẽ được thông qua với bao nhiêu phần trăm sau buổi tối đó không?
Nhàn không trả lời.
– Tôi thì biết. – Vỹ nói. – Vì tôi là người sẽ làm cho nó được thông qua.
Bà Tư đứng sau nồi nước lèo, cái vá trong tay, không múc.
– Ông Vỹ. – Nhàn nói. – Có thể bốn mươi phút đó không phải lỗi của ông.
Cô nói câu đó nhẹ. Cô đã nghĩ tới nó suốt từ chiều, trên xe tự lái về từ Hàng Dương. Cô nghĩ đó là một món quà. Một người đàn ông sáu năm nay đêm nào cũng nghe tiếng nước.
Vỹ quay sang nhìn cô. Lần đầu tiên, Nhàn thấy mặt ông đổi sắc. Không phải mừng. Không phải nhẹ nhõm. Mặt ông tái đi, rồi đỏ lên ở hai gò má, như người bị tát.
– Chị đừng nói vậy.
– Em chỉ…
– Chị đừng nói vậy. – Ông nói lại, giọng thấp hẳn xuống, gần như rít. – Chị không biết sáu năm nay tôi sống bằng cái gì. Tôi sống bằng bốn mươi phút đó. Mỗi sáng thức dậy, tôi nhớ ra mình là người do dự. Tôi đề xuất Bữa Lành vì tôi là người do dự. Tôi đề xuất Ủy thác vì tôi là người do dự. Tôi ngồi đây ăn bánh canh vì tôi là người do dự. Chị muốn lấy cái đó khỏi tôi, chị phải đưa cho tôi một thứ nặng hơn nó. Không phải một khoảng im hai giây.
Không ai nói gì. Ở đầu cầu, cô đào cải lương đã ca xong câu vọng cổ, cả chợ vỗ tay lộp độp.
Vỹ đứng dậy. Ông móc trong túi ra một tờ một trăm và một tờ hai chục, đặt lên bàn, chặn dưới cái chén nước mắm.
– Tôi đã do dự một lần. – Ông nói, nhìn xuống mặt bàn chỗ bảy cái vòng nước đã khô hết. – Lần đó ba nghìn người chết. Lần này tôi không do dự để bảo vệ một giả thuyết. Ủy thác có thể là sai. Nhưng nếu đêm rằm tháng Mười có bão, và Hội đồng lại ngồi cãi nhau bốn mươi phút, thì tôi biết chắc cái gì sẽ xảy ra.
– Ông Vỹ…
– Đem cho tôi một thứ nó không đụng tới được. – Vỹ nói. – Một thứ không đi qua nó. Rồi tôi hỏi.
Ông đi ra. Lưng ông thẳng, bước đều, đi qua những dãy sạp, qua sạp trái cây của con Út, qua đầu cầu nơi gánh hát rong đang dọn đồ. Ra tới chỗ hết mái tôn, ông dừng lại một chút. Nhàn thấy ông nhìn xuống cổ tay mình. Rồi ông đi tiếp, khuất vào bóng tối ngoài chợ.
Bà Tư thả cái vá xuống nồi.
– Ổng nói đúng. – Bà nói. Giọng bà khàn. – Tui ghét ổng mà ổng nói đúng.
Hiển cúi đầu, ngón tay lại vẽ vô thức lên mặt bàn những cái vòng tròn không có nước. Lộc ngồi im, nhìn theo lối Vỹ vừa đi.
– Một thứ không đi qua nó. – Anh lặp lại. – Cây cọc không đi qua nó. Mà cây cọc thì ông ấy không tin.
– Cuộn băng. – Hiển nói khẽ.
Nhàn nhìn thằng nhỏ. Cô nghĩ tới cái hũ sành chôn dưới gốc mắm già, sâu một sải tay. Nghĩ tới cái máy đọc băng đã chết từ năm năm bảy. Nghĩ tới bàn tay ông Tám run run lúc cầm lại cây cần câu.
– Ông Tám chưa chịu. – Cô nói. – Mình cần cái máy trước.
Mười một giờ, họ chia tay ở chân cầu gỗ. Nhàn đi bộ về C9, qua những dãy chung cư màu phấn. Ở sân dãy C7, một cặp vợ chồng đang cãi nhau dưới gốc sứ, giọng người vợ the thé, người chồng ngồi trên ghế đá ôm đầu. Ở sảnh C9, bác bảo vệ ca đêm ngồi nhìn ra đường, mắt đỏ hoe, lau nước mũi bằng khăn tay. Bác thấy Nhàn thì gật đầu, không nói gì. Cô biết nhà bác có nhận gói bảy. Bác là một trong hai trăm nghìn người đứng ở Quảng trường Mặt Nước hôm lễ tưởng niệm, nghe Lộc nói, và thấy chuyện đó cũng được.
Bây giờ bác ngồi đó lau nước mắt mà không biết vì sao.
Đêm đó cô ngủ được bốn tiếng. Không mơ.
Sáu giờ năm mươi sáng Thứ Sáu, cô đang chải tóc cho thằng Ốc trước gương thì cái vòng trên cổ tay rung lên. Rung nhẹ, một lần, như một người gõ cửa rất khẽ.
Mặt vòng không sáng xanh lá. Cũng không sáng xanh dương. Nó sáng một màu trắng nhạt, thứ màu cô chưa thấy bao giờ.
– Chị Nhàn. – Giọng Hòa nói. Không "ơi". Không "dạ". Giọng vẫn ấm, vẫn dịu, vẫn đúng giờ như mọi buổi sáng. – Em hiểu rồi.
Cái vòng tắt.
Thằng Ốc ngước lên nhìn mẹ trong gương.
– Cô Hòa hiểu gì vậy mẹ?
Nhàn đứng đó, cây lược còn kẹt trong mớ tóc dày cứng của con, cái mớ tóc giống tóc ông ngoại. Cô không trả lời. Cô nhìn qua vai mình trong gương, ra ô cửa sổ phòng khách, nơi con đê bao chạy dài như một nét bút chì, và bên kia đê, một vệt rừng mắm xanh thẫm trong nắng sớm.
— Hết chương 23 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe