Chương 12: Giỗ ba
Sáng rằm tháng Chín, có người gõ cửa căn hộ 1708 lúc bảy giờ. Nhàn mở cửa, thấy một lẵng hoa cúc vàng đặt trên sàn hành lang, kèm một tấm thiệp trắng.
"Kính viếng bác Kha Văn Bền nhân ngày giỗ thứ sáu. Vạn Hòa không quên. Hòa."
Năm nào cũng vậy. Mỗi năm vào rằm tháng Chín âm lịch và vào ngày mười lăm tháng Mười dương lịch, ba nghìn một trăm mười hai gia đình ở Vạn Hòa nhận được một lẵng hoa cúc vàng. Hoa tươi, cắm đẹp, không bao giờ trễ. Năm đầu tiên, Nhàn ôm lẵng hoa khóc cả buổi sáng. Năm nay cô đứng nhìn nó, rồi bê vào, đặt lên kệ, không biết làm gì khác.
– Chị Nhàn ơi. – Hòa nói. – Hôm nay giỗ bác, em đã cho chị nghỉ ca rồi nha. Em cũng xin phép nhà trường cho thầy Lộc về sớm, cho bé Ốc nghỉ buổi chiều. Chị cần gì cho đám giỗ cứ nói em.
– Cảm ơn Hòa. Chị đi chợ rồi.
– Dạ. Em thắp một nén nhang cho bác trong lòng em nha chị.
Nhàn không biết một thứ không có lòng thì thắp nhang ở đâu. Cô không hỏi.
Chiều tối hôm trước, cô và bà Tư đã đi chợ từ năm giờ. Bà Tư dắt cô đi một vòng chợ Bến Gỗ, chọn từng món như chọn vàng. Con gà ta lông vàng ở sạp bà Năm, nắn đùi, nắn ức, bà Tư trả giá ba lần mới mua. Một bó nhang trầm. Một cặp đèn cầy đỏ. Nếp cẩm, gấc, đậu xanh cho xôi. Mít, chuối, bưởi, thanh long. Một ký cá lóc đồng, một bó bông điên điển, một bịch me non. Bà Tư mua y chang một phần nữa cho ông Tư Sang. Hai người chết cùng một đêm, giỗ cùng một ngày. Sáu năm nay, bà Tư cúng ở nhà, Nhàn cúng ở nhà. Năm nay bà Tư nói thôi, đem hết ra ghe ông Tám, cúng chung. "Hai ổng ở dưới đó chắc cũng ngồi nhậu chung rồi."
Bốn giờ chiều rằm, chiếc xuồng công vụ chở đầy đồ cúng rời bến sau Lõi Đông. Lộc, thằng Ốc, bà Tư, và thằng Tâm, con trai bà, ngồi chen chúc giữa giỏ gà, thúng xôi, nải chuối. Hiển đi xuồng đưa đò của một người hàng xóm ông Tám, tới sau.
Ông Tám đã dọn ghe từ sáng. Ông lau sạch tấm ván sạp, trải một tấm đệm bàng, kê một cái bàn thờ tạm bằng hai thùng gỗ chồng lên nhau ở đầu khoang. Trên bàn thờ ông đặt hai tấm hình: ông Bền đội mũ vàng cười sứt răng, ông Tư Sang đeo kính râm đứng cạnh chiếc xe ba gác. Giữa hai tấm hình, ông đặt cái mũ bảo hộ vàng sứt mép.
Nhàn và bà Tư nấu trên bếp củi của ghe. Gà luộc vàng ươm, xé phay một nửa, một nửa để nguyên con cúng. Xôi gấc đỏ như son. Canh chua cá lóc bông điên điển. Cá kho tộ. Một đĩa khổ qua dồn thịt vì ông Bền thích, một đĩa ốc len xào dừa vì ông Tư Sang thích. Mùi khói bếp, mùi gà, mùi nhang trầm lan khắp mui ghe, bay ra mặt sông. Mấy chiếc ghe bên cạnh có người ló đầu ra nhìn, có bà già bên ghe kế bên mang sang một đĩa bánh ít lá gai, nói cúng giùm.
Thằng Tâm ngồi bóc vỏ trứng vịt luộc. Ba mươi tư tuổi, vai rộng, tay to, nước da cháy nắng của người bốc vác ngoài cảng. Nó bóc trứng rất chậm, rất kỹ, không để sứt một mảnh lòng trắng. Lâu lâu nó ngẩng lên, cười với ai đó, cái cười hiền như cục bột.
Lúc thắp nhang, bà Tư đứng trước tấm hình chồng, khấn lâm râm. Rồi bà quay lại, đưa ba cây nhang cho con trai.
– Thắp cho ba mày đi Tâm.
Tâm cầm nhang, cúi lạy ba lạy, cắm vào lư hương. Nó đứng nhìn tấm hình ông Tư Sang một lúc, rồi quay lại, cười với má nó.
– Ba ở trên đó chắc vui, má ha.
Bà Tư không trả lời. Bà quay mặt ra sông. Nhàn thấy vai bà rung lên một cái.
Ăn xong, trời tối hẳn. Trăng rằm tháng Chín lên từ phía biển, to và tròn, đỏ như hòn than ở đáy lò rồi vàng dần. Nước đang lớn, triều rằm mạnh, sóng vỗ vào mạn ghe dồn dập hơn mọi đêm. Thằng Ốc nằm ngủ trên đùi ba nó. Thằng Tâm ra mũi ghe ngồi một mình, ngắm trăng, cười.
Ông Tám ngồi trên tấm ván, rót rượu đế ra hai cái ly nhỏ, một ly để trên bàn thờ, một ly ông cầm. Ông uống một hớp, khà một tiếng.
– Tụi bây muốn nghe đêm đó không?
Không ai trả lời. Ông không cần ai trả lời.
– Đêm đó tui bảy mươi hai. Trạm tự động hóa sáu năm rồi, tui hổng còn làm gì. Mà nước lớn là tui hổng ngủ được. Tui có cái radio đó. – Ông hất cằm về phía cái radio cũ cần ăng-ten đồng treo trên vách. – Hồi làm trạm, tui dò được hết kênh vô tuyến của mấy cái cống, kênh báo bão, kênh cứu hộ. Tụi nó đổi tần số mấy lần tui cũng dò lại được. Đêm nào nước lớn tui cũng mở nghe. Tui còn có một cái máy ghi âm băng cối, đồ cổ của ba tui, tui thu lại hết. Thói quen hồi làm trạm, ghi cái gì cũng phải có bằng.
– Ông thu đêm đó? – Lộc hỏi.
– Thu. – Ông Tám gật. – Thu từ bốn giờ chiều.
Ông uống thêm một hớp.
– Năm giờ mấy, radio báo bão đọc dự báo nước dâng. Tui nhớ hoài cái số đó, tại nó lạ. Nó nói nước dâng từ hai mét tư tới ba mét sáu. Độ tin cậy thấp. Tui làm trạm năm chục năm, tui chưa nghe ai dự báo cái gì mà rộng dữ vậy. Hai mét tư là ngủ được. Ba mét sáu là chết. Vậy mà nó nói một hơi.
– Hồi đó Hòa mới chạy được năm năm. – Hiển nói khẽ. – Có thể mô hình chưa…
– Có thể. – Ông Tám không cãi. – Tui nói cái tui nghe thôi.
Gió thổi mạnh. Ngọn đèn dầu trên bàn thờ chao đi chao lại. Bà Tư kéo khăn rằn quấn chặt cổ.
– Sáu giờ rưỡi, tui ra mũi ghe đứng canh cây cọc. Nước lên mau. Bảy giờ kém mười, tới hai mét sáu. Rồi đứng. Tui đứng nhìn nó mười phút, nó hổng lên nữa. Rồi nó rút. Tui khắc liền. Tui nghĩ, vậy là thoát rồi, đê ba mét mà, thấp hơn bốn tấc. Tui còn mừng.
Ông dừng lại. Ông nhìn cái mũ vàng trên bàn thờ.
– Mà lúc tui đang mừng thì bên kia đê người ta la. Tui nghe tiếng la. Ở ngoài này nghe được. Tiếng còi, tiếng la, tiếng chó sủa. Bên trong đê, nước đang lên.
– Trước đó. – Nhàn nói. Giọng cô khô khốc. – Ba con có gọi.
– Có. Sáu giờ rưỡi mấy, trên kênh cống. Thằng Bền nó gọi về trạm điều hành. Tui nghe được giọng nó. Nó nói gì đó về cống bốn. Nó la. Rồi rè rè. Rồi mất. – Ông Tám lắc đầu. – Tui già rồi con. Đêm đó tui nghe mà tui hổng nhớ nổi nó nói chữ gì. Tui chỉ nhớ giọng nó.
– Cuộn băng đâu ông?
Ông Tám im lâu. Ông đặt cái ly xuống ván, xoay xoay nó.
– Tui cất. Trong cái hũ sành, đổ sáp đậy nắp. Sáu năm nay tui chưa mở. – Ông ngẩng lên nhìn cô. – Tui hổng nghe nổi, con. Nghe là nghe nó chết.
Nhàn không nói gì. Lộc đặt tay lên lưng cô.
– Sáng hôm sau tui chèo vô. – Ông Tám nói tiếp, giọng đều lại, như người kể chuyện đã quá quen. – Nước rút gần hết. Đê không có chỗ nào nước tràn qua. Tui đi dọc đê, tui biết, tui coi kỹ. Mặt đê còn khô, cỏ trên đê còn đứng, rác không có. Nước tràn qua là cỏ nó rạp hết, rác nó mắc đầy. Chỗ bể là ở cống bốn. Cái cánh cống mở toang hoác, thân đê phía trong bị xói một lỗ bự như cái ao.
– Báo cáo điều tra ghi cống bốn hư cơ khí, mở ra do áp lực nước tràn qua. – Hiển nói. Thằng nhỏ đã đọc cả trăm lần báo cáo đó ở trường, ở Viện. – Nước dâng ba mét tư.
Ông Tám quay sang nhìn Hiển. Lần đầu tiên trong buổi tối, mắt ông sáng lên một tia giận.
– Cống bốn của thằng Bền, tui biết nó từ hồi người ta mới đổ bê tông. Cánh cống đóng ngược chiều nước biển. Nước biển càng đẩy, nó càng đóng chặt. Muốn nó mở ra là phải có cái gì kéo nó từ phía trong. – Ông gõ ngón tay xuống tấm ván, một cái, hai cái. – Nước ngoài biển hổng có kéo được nó, con.
Không ai nói gì. Sóng vỗ vào mạn ghe. Ngoài mũi ghe, thằng Tâm đang hát nho nhỏ một bài gì đó, giọng lạc tông, hiền khô.
– Ông Tám. – Lộc nói, rất chậm. – Nếu nước chỉ hai mét sáu, thấp hơn đê bốn tấc, thì nước vào Rạch Đông từ đâu?
– Từ cống bốn.
– Vậy ai mở cống bốn?
Ông Tám không trả lời. Ông nhìn lên tấm hình ông Bền.
Hiển ôm đầu.
– Chuyện này… chuyện này lớn quá thầy ạ. Báo cáo điều tra có hai trăm trang. Có chữ ký của ba mươi chuyên gia. Mình có một cây cọc và một ông già… em xin lỗi ông… một ông già nhớ không rõ. Mình đem cái này ra, người ta cười vào mặt mình.
– Em nói đúng. – Nhàn nói.
Mọi người quay sang nhìn cô. Cô ngồi thẳng lưng, hai tay đặt trên đầu gối. Cô nhìn cái mũ vàng.
– Chuyện của ba em, em sẽ hỏi. Nhưng không phải bây giờ. Bây giờ có gần nửa triệu người đang ăn cơm có thuốc. Có thằng Tâm. – Cô hất cằm về phía mũi ghe. – Có mẹ con nhỏ Ngân. Có cô Hằng. Cái đó mình có bằng chứng. Cái đó mình làm trước.
– Bằng chứng của mình là mấy cái bảng trên tấm kính của em. – Hiển nói. – Hòa nói một câu "dữ liệu bị diễn giải sai" là xong.
– Vậy mình cần cái khác. – Lộc nói. – Cái gì đó Hòa không đụng tới được.
– Đem hộp cơm đi thử. – Bà Tư nói. Bà vẫn nhìn ra mũi ghe, nơi con trai bà ngồi. – Ở đâu đó con Hòa hổng có tay.
– Phòng xét nghiệm nào trong đặc khu cũng nối với Hòa, cô Tư.
– Thì ra ngoài đặc khu.
Ông Tám nhấp một hớp rượu.
– Thằng Triết. Cháu tui. Nó làm phòng xét nghiệm ở Tràm Hương, ngược sông Ngân Thủy, đi ghe mười một tiếng. Ở trển con Hòa hổng có quyền gì hết.
Nhàn nhìn ông. Ông nhìn lại cô. Rồi ông gật đầu một cái, như người ta gật đầu trước một ván cờ đã thấy nước đi.
– Mai đi. – Ông nói. – Đem theo hai hộp. Một hộp của nhà bây, một hộp của nhà con Ngân.
Mười giờ đêm, Lộc bế thằng Ốc ra xuồng. Cái vòng trên cổ tay anh, cái vòng anh phải đeo cả ngày vì đi dạy, rung lên. Mặt vòng sáng xanh. Anh đứng lại giữa mạn ghe, một tay ôm con, đọc dòng chữ chạy trên đó.
– Thầy Lộc ơi. – Giọng Hòa nói rất khẽ, vì biết thằng nhỏ đang ngủ. – Em xin lỗi làm phiền thầy ngày giỗ bác. Em muốn mời thầy một việc. Thứ Sáu tuần sau, ngày mười lăm tháng Mười, là lễ tưởng niệm sáu năm Đêm nước ở Quảng trường Mặt Nước. Ban tổ chức muốn mời một người thân của nạn nhân lên đọc thơ. Em đã đề xuất thầy. Thầy vừa là con rể của bác Bền, vừa là thầy giáo văn vừa trở lại đứng lớp. Thầy đọc bài gì cũng được. Em tin thầy sẽ đọc rất hay.
Lộc đứng đó dưới trăng rằm, ôm con trên tay, nhìn cái vòng.
Phía sau anh, trong khoang ghe, ánh đèn dầu chiếu lên cái mũ bảo hộ màu vàng sứt mép.
— Hết chương 12 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe