Chương 4: Nước hiền ở Cọc Mốc
Con gà trống gáy khi chiếc đò điện còn cách Đèn Cửa Lở cả trăm mét, gáy một tràng dài, khàn khàn, rồi nhảy phóc lên lan can sắt, ưỡn ngực nhìn xuống như ông chủ ra đón khách.
– Con Ky! – Bông đứng bật dậy giữa đò, chỉ tay. – Mẹ ơi, con Ky kìa!
– Ngồi xuống. Té xuống nước bây giờ.
Bông ngồi xuống, nhưng hai tay vẫn bám thành đò, mắt dán vào con gà. Con Ky là gà trống tre lông đỏ đuôi đen, ông ngoại nó nuôi đã bốn năm, không ai biết ông kiếm đâu ra một con gà giữa biển. Sáng nào nó cũng gáy lúc năm giờ kém, trước giờ ông đọc thước nửa tiếng. Ông bảo nuôi nó để khỏi phải đặt đồng hồ.
Sáng thứ Bảy, trời trong, gió tây nam thổi đều. Mặt biển từ thành phố ra Cọc Mốc xanh ngắt, gợn sóng nhỏ lăn tăn, nắng bảy giờ sáng chiếu xiên làm mỗi gợn sóng loé lên một chấm bạc. Chiếc đò điện của thành phố chạy tuyến này mỗi tuần hai chuyến, chở nước ngọt, gạo, dầu ăn cho người giữ đèn. Bình lái. Ngoài hai mẹ con chỉ có mấy thùng hàng.
Đèn Cửa Lở hiện ra mỗi lúc một rõ. Một ngọn tháp đá xám, tròn, thon dần lên trên, chân chìm trong nước, chừng hai mươi mét nhô khỏi mặt biển. Ngày xưa nó đứng trên mỏm Mũi Đá Ông, đầu thị trấn Cửa Lở, cao hai mươi bốn mét tính từ mặt đá. Hồi Lài còn nhỏ, tối nào ánh đèn quét của nó cũng lướt qua cửa sổ phòng cô, đều như nhịp quạt. Bây giờ cái mỏm đá nằm dưới ba mét nước. Còn cái thị trấn có căn phòng ngủ ấy, xây trên đất bồi, sau trận nước thì lún sụt, giờ nằm dưới bảy tám mét nước bùn.
Người ta không phá nó đi vì nó đứng trên đá gốc, không lún. Nó là thứ duy nhất ở vùng biển này không nhúc nhích. Bởi vậy nó thành Cọc Mốc.
Sát chân tháp, người ta đã xây thêm một cái nhà sàn bằng thép quây quanh thân đèn, sàn cao hơn mặt biển chừng ba mét, mái tôn xanh, có lan can. Ngọn đèn trên đỉnh tháp vẫn còn, giờ chỉ là một cái đèn hiệu nhỏ màu đỏ. Trên lan can treo mấy cái lưới cũ, mấy bó dây. Dọc sàn là một hàng thùng nhựa trồng rau muống, xanh mướt. Cạnh cửa có cái bồn nước ngọt, cái lu muối dưa, một cái ghế bố. Thứ nổi bật nhất là cây thước nước bằng đồng, dài sáu mét, bắt bu lông vào thân tháp, chạy thẳng từ lan can xuống tận dưới mặt nước. Mỗi vạch khắc một phân, mỗi mười phân một con số đỏ.
Doãn Văn Thới đứng ở đầu cầu thang sắt dẫn xuống bến, tay cầm sợi dây đón đò, áo thun ba lỗ, quần đùi, chân đất. Sáu mươi tám tuổi mà vai còn ngang, cánh tay còn những bắp thịt dài như dây thừng của người hai mươi năm lặn hàn dưới nước. Mặt ông đen và nhăn như vỏ cây bàng. Ông không cười khi thấy hai mẹ con. Ông chưa bao giờ cười khi đón ai. Ông chỉ quăng dây cho Bình buộc đò, rồi chìa tay xuống.
– Lên.
Bông nhào lên trước, ôm chầm lấy chân ông.
– Ông ngoại!
– Ờ. – Ông đặt bàn tay to bè lên đầu con bé, xoa một cái. – Lớn rồi. Nặng hơn bữa trước.
– Con lên một ký!
– Ờ. Một ký.
Lài leo lên sau, khuân hai thùng gạo. Cha cô liếc cô một cái từ đầu tới chân.
– Mày ốm.
– Con vẫn vậy mà ba.
– Ốm. Mắt thâm.
Ông đỡ thùng gạo từ tay cô, đi trước vào nhà.
Căn nhà sàn trên Cọc Mốc chỉ có một phòng, kê một cái giường gỗ, một cái bàn, một cái bếp ga nhỏ, một cái radio sóng ngắn kiểu cũ màu xám, núm vặn to như nắp chai. Trên vách treo tấm ảnh duy nhất, ảnh mẹ Lài năm ba mươi tuổi, đứng trước cửa tiệm may trên phố chợ Cửa Lở, cười nheo mắt vì nắng. Ảnh in trên giấy, đã ố vàng. Ông Thới không chịu để ảnh trong vòng tay. Ông bảo cái gì trong máy thì có ngày máy giữ, mình không giữ.
Ông bắc ấm nước, pha trà. Bông chạy ra lan can đuổi con gà. Hai cha con ngồi đối diện nhau qua cái bàn, như mỗi tuần, im lặng như mỗi tuần.
– Bữa thứ Năm có chuyện ở ô 9-140. – Lài nói. – Con Sương trong tổ con suýt chết đuối. Van dằn khẩn cấp mở trong lúc nó ở trong ô.
– Tao nghe Bình nói sơ trong bản tin tối. Nó vô ô làm chi?
– Con không biết. Nó không nói.
Ông Thới thổi chén trà, không uống.
– Con nhỏ đó còn trẻ. Ngu.
– Ba. Con hỏi ba cái này.
– Hỏi.
– Nước có lên nhanh không ba? Ở đây.
Ông Thới đặt chén trà xuống. Ông nhìn cô một lúc lâu, cái nhìn của người thợ hàn nhìn một mối hàn để xem nó có ngấu chưa.
– Ra đây.
Ông đứng dậy, đi ra lan can. Lài theo. Ông chỉ xuống cây thước đồng. Mặt nước đang liếm ở vạch một mét tám mươi mốt, sóng nhỏ đẩy lên tới tám mươi ba, rút xuống tám mươi.
– Thước nó nhảy lên nhảy xuống theo con nước. Tao trừ con nước ra, còn cái nền là một mét tám mươi hai. – Ông nói. – Năm Năm Hai lúc hạ thuỷ là một mét sáu mươi tám. Mười tám năm lên mười bốn phân. Mỗi năm chưa tới một phân. Biển ở đây nó hiền lắm. Nó hiền từ hồi tao còn nhỏ tới giờ. Năm Bốn Chín không phải tại biển. Tại đê. Tại đất. Biển không có lỗi gì.
– Vậy thì cái đinh của ba.
Ông quay qua nhìn cô.
– Cái đinh ba hàn ở ô 9-117. Ngày hạ thuỷ, ba hàn đúng mặt nước. Con đứng trên bè, con thấy. Bây giờ nó nằm dưới bốn mươi mốt phân nước.
Cha cô im một nhịp. Rồi ông nói, nhanh, gọn, như đọc một câu đã thuộc:
– Tao hàn lệch.
– Ba hàn có quả dọi, có ống thuỷ. Ba đóng cái kệ chén còn đo cho bằng.
– Sóng. Bữa đó sóng lớn. Ai mà biết.
– Bữa đó lặng như tờ, ba. Con nhớ mà.
– Mày mười lăm tuổi, mày nhớ cái gì. – Ông quay đi, vỗ tay xuống lan can. – Thành phố nặng thì nó xuống. Người ta xây thêm, chở thêm. Mấy cái vạch sơn của tụi bây đó, người ta tính rồi. Mày lo làm việc của mày.
Ông bước vào nhà. Lài đứng lại bên lan can, nhìn cây thước đồng, nhìn mặt nước ở một mét tám mươi hai.
Cô biết cha mình. Ông là người nói chậm. Ông nói câu nào cũng như đóng một cái đinh, phải ngắm, phải đo, rồi mới đóng. Cả đời cô chưa từng nghe ông trả lời một câu hỏi nhanh như vừa rồi. "Tao hàn lệch." Câu đó như có sẵn trong miệng ông, chờ cô hỏi là bật ra.
Ở góc lan can phía tây bắc, hướng về thành phố, có một cái giá ba chân bằng gỗ đã bóng lên vì tay người cầm. Trên giá đặt một cái kính ngắm quang học kiểu cũ, ống đồng, vỏ sơn xanh ô liu đã bong tróc. Lài biết cái kính này. Ông dùng nó để làm gì đó với thành phố, cô chưa bao giờ hỏi. Cô chỉ biết mỗi sáng sau khi đọc thước, ông ngồi bên nó rất lâu.
– Ông ngoại ơi, cái này là ống nhòm hả?
Bông đã đứng ở bên giá kính từ lúc nào, nhón chân, ghé mắt vào thị kính.
– Mẹ ơi, con thấy nhà mình! Con thấy cái tam giác màu đỏ…
– BỎ RA!
Tiếng quát của ông Thới làm cả con gà trống trên lan can giật mình bay phạch phạch xuống sàn. Ông bước tới hai bước, gỡ tay Bông ra khỏi cái kính, mạnh tới mức con bé loạng choạng ngồi phịch xuống sàn thép.
Bông ngồi đó, mắt mở to, không khóc liền. Con bé nhìn ông ngoại như nhìn một người lạ. Rồi môi nó run, mặt nó méo đi, và nó oà lên.
Lài chạy tới bế con. Cô nhìn cha mình. Ông đứng bên cái kính, một tay đặt lên ống đồng như đặt lên vai một người, tay kia buông thõng. Mặt ông tái đi.
Cả đời Bông, ông chưa từng quát nó một tiếng. Ông chiều nó hơn chiều Lài hồi nhỏ gấp mười lần. Nó nắm râu ông, ông cười. Nó làm đổ lu muối dưa, ông cười. Nó lấy cái mỏ hàn cũ của ông đi chọc cá, ông cũng cười.
– Ba. – Lài nói.
Ông không nhìn cô. Ông xoay cái kính đi một chút, lệch khỏi hướng thành phố, lấy cái nắp đồng đậy thị kính lại. Rồi ông quay sang Bông, ngồi thụp xuống, chậm chạp như một ông già thật sự.
– Ông xin lỗi. Cái kính này của ông, nó cũ, nó yếu lắm. Đụng vô là lệch. Lệch thì ông đọc sai. Ông đọc sai thì cả thành phố nghe sai. Hiểu hông con?
Bông gật đầu, nước mắt còn ròng ròng, nấc từng cái.
– Rồi. Ông đền con cái này.
Ông thò tay vào túi quần, móc ra một cái vỏ ốc gai to bằng nắm tay, vằn nâu vằn trắng, trong ruột hồng như má con nít. Ông nhét vào tay Bông.
– Ốc tù và. Hồi sáng ông lặn dưới chân đèn lượm được. Áp vô tai thì nghe biển.
Bông áp cái vỏ ốc vào tai, vẫn còn nấc, nhưng mắt đã sáng lên.
Buổi trưa, ông Thới nấu cơm. Canh rau muống nấu với tôm khô, cá bạc má kho tiêu, dưa muối. Ông gắp cho Bông con cá to nhất, gỡ xương từng miếng. Ông không nói thêm câu nào về cái đinh, về cái kính. Lài cũng không hỏi. Bông kể chuyện trường, chuyện con bạn tên Ngọc Hân mới có răng khểnh, chuyện cô Bình đang kể chuyện con rùa.
– Ông ngoại ơi, ở đây có rùa không?
– Hồi xưa có. – Ông nói, không ngẩng lên. – Rùa biển. Tháng Năm tháng Sáu tụi nó bò lên bãi cát dưới chân đèn đẻ trứng. Hồi mẹ con bằng con, ông dắt mẹ con ra coi. Cát bây giờ ở dưới nước hết rồi. Rùa không còn chỗ đẻ, không về nữa.
– Rùa đi đâu?
– Đi chỗ khác.
– Chỗ khác ở đâu?
– Ông không biết. Ăn đi con.
Hai giờ chiều, đò điện quay lại đón. Ông Thới đứng ở đầu cầu thang sắt, tay cầm dây, nhìn hai mẹ con xuống đò. Lúc đò đã tách bến, ông mới nói với theo một câu, không lớn, nhưng gió đưa tới rõ ràng:
– Lài. Con nhỏ Sương. Mày nói nó đừng có vô mấy cái ô đó nữa.
Rồi ông quay lưng đi lên, con gà trống lẽo đẽo theo sau.
Đò chạy về thành phố. Bông ngủ gục trên đùi Lài, tay vẫn ôm cái vỏ ốc. Lài ngồi nhìn thành phố lớn dần ở phía trước.
Từ ngoài biển nhìn vào, Lục Bình đẹp như một bức tranh. Mười hai khoang xoè ra như những cánh hoa, mái nhà đủ màu, xanh, đỏ, vàng, cam, chen chúc với những vạt rau trên mái, những tấm pin mặt trời lấp loá, những dây phơi đồ bay phần phật. Ở mép ngoài mỗi khoang có một tấm mốc mạn, tấm đồng lớn hình chữ nhật, giữa sơn một cái tam giác đỏ chĩa mũi xuống. Đó là cái tam giác Bông vừa thấy qua kính.
Đò chạy ngang khoang Chín. Lài nhìn tấm mốc mạn của khoang mình.
Mỗi năm, vào Ngày Hạ Thuỷ mười chín tháng Tư, dân Xóm Lưới ra mép khoang Chín thả đèn giấy về phía Cọc Mốc, nhớ thị trấn cũ. Mười tám năm, năm nào cô cũng ra, đứng ngay dưới tấm mốc mạn ấy. Hồi mới lên thành phố, cô hay nằm sấp trên mép ván nhìn xuống tấm đồng ấy. Mũi tam giác đỏ cách mặt nước dài hơn cánh tay cô hồi đó, cô thò tay xuống vớt nước không bao giờ chạm được tới nó.
Bây giờ, mũi tam giác đỏ gần chạm vào mặt nước. Sóng nhỏ liếm lên, ướt cả cái mũi nhọn.
Cô ngồi nhìn cho tới khi đò rẽ vào kênh khoang Mười.
Tám giờ tối, vòng tay rung. Một cuộc gọi hình từ đất liền. Gương mặt Tiêu Văn Nhựt hiện lên, đen nhẻm, cười toe, sau lưng là bức tường xi măng của một cái lán công nhân, có cái quạt máy quay qua quay lại.
– Lài! Lài ơi! Em có ở gần Bông không? Kêu con lại đây!
– Con ngủ rồi. Có chuyện gì?
– Trúng rồi! – Nhựt gần như hét lên. – Anh trúng rồi em ơi! Ba thẻ! Ba tấm thẻ lên bờ! Một của anh, một của em, một của con! Sáng nay người ta mới gửi giấy về!
Lài ngồi xuống mép giường. Ngoài cửa sổ, sóng đêm vỗ vào thành ô 9-117 thùm thụp.
– Hạn kích hoạt tới mười lăm tháng Tám. – Nhựt nói, thở hổn hển. – Em nghe không? Mười lăm tháng Tám là ba mẹ con mình được ở chung một nhà trên đất liền. Không còn sóng, không còn bão, không còn cái loa sáng nào cũng đọc số nữa. Em nghe không Lài?
– Em nghe.
– Sao giọng em nghe lạ vậy?
Lài nhìn cái vỏ ốc tù và nằm trên gối bên cạnh đầu Bông, ruột hồng như má con nít.
– Không có gì. – Cô nói. – Em mệt.
— Hết chương 4 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe