Chương 16: Đêm trên Đèn Cửa Lở
– Mười lăm tháng Tám. – Nhựt nói, đứng ở đầu cầu tàu, ba lô trên vai. – Anh chờ.
Chiều thứ Sáu, chuyến tàu ba giờ về Gò Cao đã kéo còi lần thứ hai. Bông ôm chân ba nó, không chịu buông. Nhựt cúi xuống, gỡ từng ngón tay con bé ra, hôn lên tóc nó, rồi bế nó trao cho Lài. Anh nhìn vợ, định nói gì đó, rồi thôi. Anh quay lưng đi lên tàu.
Bông khóc suốt đường về. Không khóc to, chỉ nấc từng cái, mặt úp vào vai mẹ. Tới cầu Chín-Mười, con bé mới ngẩng lên hỏi:
– Mẹ ơi, con chó vàng đó có chờ con đặt tên không?
– Có. Ba nói chờ con mà.
– Nếu con không lên thì ai đặt tên cho nó?
Lài không trả lời được.
Năm giờ chiều, cô gửi Bông ở nhà bà Tám, rồi xuống ghe ông Sáu Cào.
– Đi Cọc Mốc hả con? – Ông Sáu hỏi.
– Dạ. Con ngủ lại đó đêm nay. Sáng mai ông đón con.
Ông Sáu không hỏi gì thêm, nổ máy.
Ghe chạy được một quãng, ông Sáu mới lên tiếng, mắt nhìn thẳng về phía Đèn, giọng lẫn trong tiếng máy:
– Ổng không nói thì con đừng ép. Đêm nước năm Bốn Chín, qua với ổng đứng chung một khúc đê. Qua thấy mặt ổng lúc ổng chạy về phố chợ. Qua sống bảy mươi mốt năm, chưa thấy mặt người nào như vậy. Từ bữa đó tới giờ, ổng chưa nói về đêm đó với ai hết. Với qua cũng không.
Lài ngồi im ở mũi ghe, nhìn ngọn tháp đá xám mỗi lúc một lớn dần.
Lần này cô đi lúc trời còn sáng, đi thẳng vào bến, ngay dưới chân cầu thang sắt. Con gà trống Ky đứng trên lan can, nghiêng đầu nhìn cô, không gáy. Cha cô đứng ở đầu cầu thang, tay cầm sợi dây, như đã biết trước cô sẽ tới.
– Lên. – Ông nói.
Bữa tối, ông nướng hai con cá đối trên cái lò than nhỏ ngoài lan can, rắc muối hột, chấm với chén nước mắm me. Ông hái một nắm rau muống trong thùng, luộc. Hai cha con ngồi ăn trên sàn thép, quay mặt ra biển, như hồi cô còn nhỏ ngồi ăn với ông trên bậc thềm nhà cũ ở Cửa Lở. Mặt trời lặn xuống phía tây, ngay sau rìa thành phố, biến mười hai khoang lục bình thành một bóng đen viền vàng, rồi viền đỏ, rồi tím. Đèn các khoang lần lượt bật lên, lấp lánh như một chùm sao rơi xuống nước.
Ăn xong, Lài rửa chén. Rồi cô ngồi xuống cạnh cha, nói.
– Thứ Năm tuần sau, Hội đồng Dân Khoang họp bỏ phiếu mở Hộp Đáy. Con cần bảy phiếu. Con có sáu. Ông Lăng khoang Năm nói ông chỉ bỏ phiếu nếu người giữ Cọc Mốc ra làm chứng biển không dâng.
Ông Thới ngồi im, hai khuỷu tay chống lên đầu gối, nhìn ra biển.
– Ba ra làm chứng giùm con.
– Tao không đi đâu hết. Tao giữ Cọc Mốc.
– Một buổi chiều thôi ba. Ông Sáu đưa ba đi, đưa ba về. Ba chỉ cần nói đúng cái ba đo.
– Mày muốn mở cái hộp đó làm gì?
– Để biết ai ra lệnh. Ai xoá đăng ký của con. Ai bắt con ký. Ai đang giấu ba trăm cái ô đang chìm.
– Biết rồi sao?
– Biết rồi thì cả thành phố biết.
– Rồi sao?
Lài không trả lời. Cô đã nghe câu hỏi đó từ bà Mẫn, từ ông Toàn, từ Nhựt. Bây giờ là từ cha.
Ông Thới đứng dậy, đi vào nhà. Lài tưởng ông đi ngủ. Một lúc sau ông trở ra, tay cầm tấm ảnh in giấy ố vàng treo trên vách, ảnh mẹ cô đứng trước cửa tiệm may. Ông ngồi xuống, đặt tấm ảnh lên đùi, không nhìn nó.
– Đêm mười bốn tháng Chín năm Bốn Chín, – ông nói, – tao ở trên đê.
Ông kể. Ông kể chậm, từng câu cách nhau một khoảng dài như những khúc gỗ trôi trên mặt nước.
Chiều hôm đó, loa thị trấn báo đê có thể vỡ. Ông được gọi lên đê với đội thợ, đóng cừ, chất bao cát. Mẹ cô ở nhà với cô, gói đồ, chờ xe sơ tán. Tám giờ tối, xe tới. Người ta chỉ cho mang một túi xách mỗi người. Mẹ cô đưa Lài lên xe trước, nói với người lái xe chờ năm phút, bà quay lại tiệm lấy giấy tờ nhà. Không có giấy tờ nhà thì về sau không ai công nhận nhà đó là nhà mình. Tiệm may cách chỗ đậu xe ba trăm mét.
Năm phút sau, đê vỡ.
– Tao đứng trên đê, tao thấy nước. – Ông Thới nói. – Không phải sóng. Nước. Cả một bức tường nước, đen thui, đi vô phố chợ. Tao chạy về. Tao chạy về tới đầu phố thì nước tới ngực. Tao bơi. Tao bơi tới tiệm may. Cửa tiệm màu xanh lá chuối, tao nhớ, tao rọi đèn thấy nó. Cửa mở. Trong tiệm không có ai.
Ông dừng lại rất lâu.
– Ba ngày, tao lặn tìm. Tao lặn hết cái phố chợ. Tao không tìm được. Ngày thứ tư người ta bắt tao lên tàu sơ tán. Tao không chịu. Người ta trói tao lại.
Lài ngồi bất động. Cô biết mẹ mất trong trận nước. Cô biết không tìm thấy xác. Cả đời cô chưa từng nghe cha kể chuyện này. Chưa từng một lần.
– Còn mày, – ông nói, – mày lên xe sơ tán trước. Người ta chở mày tới trại con nít ở Gò Cao. Tao lên tàu, người ta đưa tao tới trại đàn ông ở một chỗ khác. Không ai biết ai ở đâu. Năm tháng. Tao tìm mày năm tháng. Tao đi bộ từ trại này qua trại kia. Mỗi trại tao đứng ở cổng, tao gọi tên mày. Tới trại thứ mười một, có một đứa con gái ốm nhom, tóc cạo trọc vì có chí, chạy ra. Tao không nhận ra mày. Mày nhận ra tao.
Ông cầm tấm ảnh lên, nhìn nó lần đầu tiên.
– Bởi vậy, Lài. Mày muốn mở cái hộp đó. Mày muốn cả thành phố biết. Rồi lệnh sơ tán. Rồi người ta lại chia. Con Bông lên một chuyến, mày lên một chuyến. Tao không có hộ khẩu đất liền, tao lên chuyến chót. Mày muốn tao đi bộ từ trại này qua trại kia một lần nữa, lúc tao bảy mươi tuổi, gọi tên con Bông ở cổng trại hả?
Gió đêm thổi qua lan can. Lưới cũ đung đưa. Ngọn đèn hiệu đỏ trên đỉnh tháp chớp, tắt, chớp. Con gà trống đã ngủ.
Lài nhìn cha mình trong ánh đèn đỏ chớp tắt. Ông già đi rất nhiều trong một buổi tối. Hai vai ngang cũng như rũ xuống.
– Ba biết khoang Chín đang chìm. – Cô nói. Không phải câu hỏi.
Ông Thới không trả lời. Ông nhìn ra phía thành phố, chỗ khoang Chín lấp lánh đèn ở rìa tây.
– Con thấy ba nhìn kính mỗi sáng. Con thấy ba không hỏi con một câu nào đêm con lên đây coi trộm. Ba biết.
Một khoảng im lặng rất dài. Rồi ông nói, rất khẽ:
– Tao biết biển không dâng.
Chỉ vậy. Không thêm một chữ.
– Ba ra làm chứng đúng câu đó. – Lài nói. – Ba không cần nói gì khác. Chỉ câu đó thôi.
Ông Thới ngồi im thêm một lúc. Rồi ông đứng dậy, cầm tấm ảnh, đi vào nhà, treo nó lên vách lại, chỗ cũ, cẩn thận như treo một cái gì rất dễ vỡ.
– Thứ Năm. – Ông nói từ trong nhà, không ra. – Mấy giờ?
– Hai giờ chiều. Trường khoang Ba.
– Tao tới. Tao nói cái tao đo. Cái tao đo là biển. Ngoài cái đó ra tao không nói gì hết.
Đêm đó Lài ngủ trên cái ghế bố ngoài lan can, đắp tấm chăn cũ của cha, mùi dầu máy và muối biển. Cô nằm nhìn sao. Đêm không trăng, sao dày đặc như ai rắc muối lên một tấm vải đen. Cô nghe sóng vỗ vào chân Đèn, đều đặn, êm ả. Cô nghĩ tới một đứa con gái mười hai tuổi tóc cạo trọc đứng ở cổng trại thứ mười một. Cô không nhớ cảnh đó. Cô chỉ nhớ cái mùi áo của cha khi ông ôm cô, mùi dầu máy và muối biển.
Năm giờ kém năm, con gà trống gáy.
Lài mở mắt. Trời còn tối, phía đông vừa hửng một vệt xám. Cha cô đã dậy, đang đi xuống cầu thang sắt ra sàn bến, tay cầm cây đèn pin. Cô nằm yên, nhìn theo.
Năm giờ hai mươi, ông đứng trước cây thước đồng, rọi đèn, đọc, môi mấp máy. Năm giờ hai mươi lăm, ông leo lên, đi tới cái giá ba chân ở góc tây bắc, gỡ nắp đồng, ghé mắt vào kính ngắm. Ông nhìn rất lâu. Ông không ghi gì. Ông đậy nắp lại.
Năm giờ ba mươi, ông ngồi xuống trước cái radio sóng ngắn màu xám, vặn núm, chờ tiếng rè ổn định, rồi cầm micro lên.
– Cọc Mốc gọi Nhà Neo. Mực nước nền sáng thứ Bảy ngày năm tháng Bảy, cộng một mét tám mươi hai. – Ông ngừng một nhịp. – Cọc Mốc kiểm xong. Nước hiền.
Ông đặt micro xuống, không tắt máy. Ông ngồi đó, hai tay đặt trên đầu gối, chờ. Lài ngồi dậy, quấn chăn, ngồi xuống cạnh ông. Hai cha con ngồi trước cái radio xám, như hai người ngồi chờ một chuyến đò.
Đúng sáu giờ, cái radio phát lại bản tin của Bình. Giọng nữ ấm áp, chậm rãi, đều đều qua lớp nhiễu sóng ngắn:
– Sáu giờ. Bản tin mặt nước sáng thứ Bảy, ngày năm tháng Bảy. Mực nước tại Cọc Mốc cộng một mét tám mươi hai. Gió tây nam cấp ba.
Một khoảng lặng. Lài chờ con số tiếp theo, con số mà cô đã nghe mỗi sáng suốt tám năm.
Nó không tới.
– Thông báo. – Bình nói tiếp, cùng một giọng. – Từ hôm nay, theo lệnh Hội đồng thành phố, bản tin mặt nước chỉ đọc mực nước tại Cọc Mốc. Mạn nổi toàn thành sẽ được công bố trong báo cáo định kỳ hằng quý. Tàu đi Bến Mười Tám khởi hành sáu giờ ba mươi, đúng lịch.
Rồi giọng cha cô, khàn khàn, phát lại từ chính cái micro trước mặt họ nửa tiếng trước:
– Cọc Mốc kiểm xong. Nước hiền.
Lài quay sang nhìn cha.
Ông Thới ngồi bất động trước cái radio. Mặt ông không đổi. Nhưng hai bàn tay ông, hai bàn tay to bè đã hàn hàng nghìn mối hàn dưới nước, đang nắm chặt lấy đầu gối, chặt tới mức các khớp ngón trắng bệch ra.
– Tụi nó bỏ con số. – Lài nói.
Ông không trả lời. Ông nhìn ra phía thành phố, nơi mặt trời vừa nhô lên, chiếu những tia nắng đầu tiên lên mười hai khoang lục bình, lên khoang Chín ở rìa tây thấp hơn tất cả.
– Bỏ con số, – ông nói, rất chậm, như nói với chính mình, – là tụi nó sợ rồi.
— Hết chương 16 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe