Chương 2: Vạch sơn cam
Ung Văn Quyết tới nhà tổ lúc mười giờ rưỡi, đi chiếc xuồng điện màu trắng của ban kỹ thuật, cập mạn còn chưa tắt máy đã nói vọng lên:
– Lài! Mày gửi cái phiếu gì mà Bình nó dán cờ vàng lên bàn tao vậy?
Nhà tổ của Tổ Lặn Bảo trì Rìa Tây là một cái container sơn xanh đặt ở góc khoang Mười, cửa sổ nhìn ra biển phía tây. Trong nhà có năm cái tủ đồ lặn, một cái bàn dài, một ấm trà lúc nào cũng nguội. Trên vách dán kín một tấm bản đồ ba khoang Chín, Mười, Mười Một, mỗi ô một ô vuông nhỏ có mã số. Lài đang ngồi ở bàn, tóc còn ướt, trước mặt là cái máy tính bảng của tổ.
– Ô 9-117 có nước trong khoang, anh Quyết. Sáu mươi phân. Cảm biến báo khô.
Quyết bước vào, cái bụng phệ đẩy cửa container kêu cái rầm. Anh bốn mươi lăm tuổi, kỹ sư trưởng kết cấu của cả thành phố, người to, tiếng to, chửi thề như thợ hồ, nhưng tính toán tải trọng thì Lài chưa thấy ai giỏi hơn.
– Tao coi ảnh rồi. Ô cũ đổ mồ hôi. Lô Mười Hai đúc năm Năm Hai, hai chục năm rồi, nó đổ mồ hôi là chuyện thường. Cảm biến lỗi thì thay. Chiều nay tao cho đội bơm qua.
– Không phải mồ hôi, anh. Vách rịn nước từ trong lõi ra. Cả bốn vách. Em cào móng tay vô là ướt.
– Thì mồ hôi là vậy chứ gì nữa.
– Còn cái đinh.
Quyết khựng lại một chút. Chỉ một chút thôi, như người đang đi bị vấp một viên sỏi nhỏ rồi bước tiếp.
– Cái đinh của ông già mày hả? Tao coi rồi. Năm đó hàn bằng mắt, đứng trên bè, sóng lắc, lệch vài chục phân là thường. Mày ghi cái đinh vô phiếu làm gì? Đinh đâu phải chuẩn. Chuẩn là vạch mớn.
– Vạch mớn dưới nước tám phân.
– Thì tháng Sáu mày sơn lại. Có phiếu rồi đó, mai mốt về.
Quyết với tay rót một ly trà nguội, uống một hơi, nhăn mặt.
– Lài, nghe tao. Chiều nay đội bơm xuống, thay cảm biến, xong. Mày đừng làm rối lên. Thanh tra đất liền cuối tháng là tới rồi, cái gì cũng phải gọn.
Rồi anh đi, xuồng điện rít một vòng trên mặt nước. Lài nhìn theo. Quyết nói đúng ở chỗ nào cũng được, chỉ có một chỗ anh sai: cha cô không bao giờ hàn bằng mắt. Ông hàn đinh nào cũng có quả dọi, có ống thuỷ, có cái thước dây cuộn trong túi áo. Hồi cô còn nhỏ, ông đóng cái kệ chén ở nhà cũ trên Cửa Lở mà còn lấy ống nước đo cho bằng, mẹ cô cười hoài.
Sương ngồi ở đầu bàn bên kia, nãy giờ không nói gì, lạ lắm. Đợi xuồng đi xa, con nhỏ mới thò đầu qua.
– Chị Hai. Em hỏi cái này chị đừng la.
– Hỏi đi.
– Vạch mớn ô nhà chị thấp hơn mặt nước tám phân, đúng không. Mà đinh của chú Thới thấp hơn bốn mươi mốt phân. Vậy là vạch mớn đã được sơn lên ba mươi ba phân so với cái đinh. Ba mươi ba phân là nhiều dữ lắm chị.
– Thành phố nặng thêm thì vạch phải lên.
– Em biết. Mà em tò mò, em lục cái lịch sử phiếu sơn của tổ mình. Chị coi nè.
Sương xoay cái máy tính bảng qua. Một bảng dài các phiếu sơn vạch mớn khoang Chín, xếp theo ngày. Mỗi phiếu là một lần cô ra bè với hộp sơn cam và cây cọ cán dài, đi vòng quanh ba khoang suốt hai tuần, rồi ký tên ở dòng cuối: "Vạch mớn khớp mặt nước. Tổ trưởng Doãn Thị Lài."
– Năm Năm Tám nâng vạch bốn phân. Năm Sáu Hai nâng ba phân. Đó là hồi chú Lành còn làm tổ trưởng. Rồi tới chị, từ tháng Mười Hai năm Sáu Sáu, nửa năm một lần, đều đều. Ba phân. Ba phân. Ba phân. Bốn. Bốn. Bốn. Năm. Cộng hết là hai mươi sáu phân trong ba năm.
Lài nhìn bảng số. Từng con số cô đã sơn bằng tay mình.
– Mỗi phiếu đều ghi "căn chỉnh theo chuẩn khảo sát KS-12" – Sương nói tiếp. – Chị biết KS-12 là trạm nào không?
– Trạm khảo sát quang học. Chắc ở trên Nhà Neo.
– Chắc hả chị?
– Chị không có hỏi. Phiếu về có toạ độ thì mình sơn. Mình là thợ lặn chứ đâu phải bên khảo sát.
Sương gật gù, nhưng cái mặt không có vẻ gì là tin.
– Em nói nghe chơi vậy thôi. Mà chị có thấy kỳ không, hai mươi sáu phân trong ba năm, mà mười bốn năm trước đó chỉ có bảy phân. Thành phố đâu có xây thêm gì nhiều đâu chị. Nhà em ở khoang Mười Một, ba năm nay có thêm đúng một cái chuồng gà.
Lài không đáp. Cô kéo cái bảng lên xuống mấy lần, rồi tắt máy.
Chiều, đội bơm của ban kỹ thuật tới, ba người, kéo cái ống bơm to bằng bắp đùi qua phòng khách nhà cô, thòng xuống nắp hầm dưới gầm cầu thang. Cái máy bơm rù rì dưới sàn như một con mèo lớn. Họ thay cảm biến độ ẩm, dán băng keo đỏ lên cái cũ, cho vào túi. Người đội trưởng đội bơm, một ông già Lài quen mặt, lúc đi ra còn đứng nhìn xuống cái hầm một hồi, rồi lắc đầu, không nói gì.
Tối, Lài dắt Bông qua chợ Rìa ăn bánh canh.
Chợ Rìa họp trên cầu Chín-Mười, rộng như một cái sân, hai bên là mấy chục gian hàng mái bạt. Tối thì chỉ còn mấy quán ăn, đèn treo vàng vọt, khói bếp trộn với hơi biển. Quán bà Tám Rô ở đầu cầu, phía khoang Chín, năm cái bàn nhựa đỏ, một nồi nước lèo to bằng cái thùng phuy. Tô bánh canh cá nục bốn mươi lăm nghìn, thêm trứng cút năm nghìn.
– Con Lài! – Bà Tám la lên từ sau nồi. – Bữa nay bà nghe tụi nó nói mày lặn dưới nhà mày hả? Có thấy vàng bạc gì không?
– Thấy nước, bà Tám.
– Nước thì biển thiếu gì mà phải lặn xuống coi. Ngồi đi. Con Bông ăn trứng cút hôn con?
– Dạ ăn. Năm trứng.
– Năm trứng là hai mươi lăm nghìn đó nghe. Mẹ con giàu ha.
Bông cười khúc khích. Lài ngồi xuống cái bàn sát mép cầu. Bàn bên cạnh có ông Sáu Cào, trưởng khoang Chín, bảy mươi mốt tuổi, ngồi với mấy ông già nuôi cá lồng, trước mặt một dĩa khô cá đuối với xị rượu nếp.
– Ông Sáu.
– Ờ, con Lài. Ngồi đây. – Ông Sáu kéo ghế. – Qua đang nói với mấy ổng nè. Năm nay qua lại phải cắt dây lồng nữa rồi. Cắt một gang tay. Năm ngoái cũng một gang, năm kia cũng một gang.
– Cắt dây lồng chi vậy ông?
– Thì cá mú nó ưa nằm ở chỗ nước đó, sâu ba mét rưỡi. Lồng treo dưới khung khoang, khung khoang mà xuống thì lồng xuống, phải cắt dây cho lồng lên lại. Nước lên mà con. Nước lên nhanh lắm. Cái loa cứ nói một mét tám mươi hai, một mét tám mươi hai, qua thì thấy nước lên mỗi năm một gang.
Một ông già bên cạnh, ông Chín Kéo, người đẩy xe nước ngọt đi giao từng nhà, gật đầu lia lịa:
– Còn cái dốc cầu Tám-Chín nữa. Hồi trước tui đẩy xe lên cái một. Hai năm nay thở muốn hụt hơi. Tui hỏi bên kỹ thuật, tụi nó nói tại tui già.
Mấy ông cười. Lài không cười.
Cô biết vì sao cái dốc khó đẩy hơn. Khoang Tám với khoang Chín nối nhau bằng một cái cầu bản lề. Nếu khoang Chín thấp hơn khoang Tám thì cái cầu nghiêng thêm, dốc hơn. Cô biết vì sao ông Sáu phải cắt dây lồng. Lồng treo dưới khung khoang, khoang xuống thì lồng xuống theo. Cô cũng biết thêm một chuyện mà ông Sáu không biết: thành phố này nổi. Biển dâng thì thành phố dâng theo, như cái nút bần dập dềnh trong thau nước. Chỉ có một thứ níu nó lại, là ba mươi sáu sợi cáp neo căng từ đáy biển lên. Cáp neo không dài ra được nếu không có ai nhả. Biển dâng mà không nhả cáp thì cáp ghì thành phố xuống, mạn nổi thấp đi. Bởi vậy Bình nhả cáp theo mực nước ở Cọc Mốc, từng li từng tí, năm nào cũng nhả. Phí nâng nổi ba trăm tám mươi nghìn một tháng mà nhà nào cũng đóng là để trả cho chuyện đó: nhả cáp, gia cố, bù nước dâng.
Vậy thì chỉ có hai khả năng. Một là biển đang dâng nhanh hơn cái số một mét tám mươi hai của cha cô, và Bình nhả cáp không kịp. Hai là chuyện khác.
Cô chưa muốn nghĩ tới chuyện khác.
– Mẹ ơi, mẹ ăn đi, nở bánh hết rồi kìa. – Bông kéo tay áo cô.
Chín giờ, hai mẹ con về nhà. Máy bơm dưới gầm cầu thang vẫn còn rù rì. Bông đánh răng, leo lên giường, ôm con gấu, rồi bấm cái loa nhỏ hình vỏ ốc gắn đầu giường.
– Cô Bình ơi. Kể chuyện.
Cái vỏ ốc sáng lên một vệt xanh dịu.
– Chào Bông. Tối nay Bông muốn nghe chuyện gì?
– Chuyện mới. Chuyện con rùa.
– Bông muốn nghe chuyện con rùa. Vậy Bình kể một chuyện mới, chuyện dài, mỗi tối một khúc. Bông chịu không?
– Chịu!
Lài ngồi ở mép giường, gỡ tóc cho con. Bình kể chuyện cho trẻ con trước giờ ngủ là dịch vụ của thành phố, nhà nào đăng ký cũng được, miễn phí. Bông nghe từ năm ba tuổi. Lài đã nghe Bình kể mấy trăm chuyện, chuyện Tấm Cám kể lại kiểu ngoài biển, chuyện con cá voi biết hát, chuyện cái đèn biển biết đi. Chuyện nào cũng dịu, cũng chậm, cũng có hậu.
– Ngày xửa ngày xưa, giữa biển lớn, có một đàn rùa sống trên lưng nhau. Con này cõng con kia, con kia cõng con nọ, ghép lại thành một hòn đảo nhỏ trôi trên sóng. Rùa trong đàn phải đếm sóng. Mỗi con đếm sóng ở phía mình, để biết gió từ đâu tới, để biết đường về. Trong đàn, con rùa thứ chín đếm giỏi nhất. Bông biết vì sao không?
– Vì sao?
– Vì trên vỏ nó có một cái đinh nhỏ bằng đồng. Cha của nó đóng vào ngày nó mới nở. Mỗi khi sóng chạm vào cái đinh, nó kêu "tinh" một tiếng. Con rùa thứ chín nghe tiếng "tinh" là biết sóng tới đâu rồi.
Bàn tay Lài đang gỡ tóc cho con ngừng lại.
– Rồi sao nữa cô Bình?
– Rồi khúc sau, Bông. Tối mai Bình kể tiếp. Bây giờ Bông ngủ đi. Sóng ngoài kia hiền lắm.
Cái vỏ ốc tắt. Bông kéo chăn lên tận cằm, nhắm mắt, miệng còn lẩm bẩm "tinh, tinh". Năm phút sau con bé ngủ.
Lài ngồi yên trong bóng tối, nhìn cái vỏ ốc đã tắt.
Cô tự nhủ đó là trùng hợp. Bình nghe hết mọi thứ trên thành phố này, nghe qua vòng tay, qua loa cột, qua tai nghe lặn. Bình biết sáng nay cô thấy cái đinh. Một cái máy kể chuyện nhặt chi tiết từ ngày hôm đó để chuyện nghe gần gũi hơn, chuyện đó đâu có gì lạ. Tháng trước Bông bị ong đốt, tối đó Bình kể chuyện con ong biết xin lỗi.
Cô tự nhủ vậy, rồi đi xuống bếp rửa chén.
Mười một giờ đêm, tiếng máy bơm dưới gầm cầu thang tắt.
Không phải tắt từ từ như khi bơm cạn. Nó tắt cái phụp, rồi im. Lài đang nằm, mở mắt. Cô nằm nghe một lúc. Không có tiếng chân. Không có tiếng xuồng. Chỉ có sóng vỗ dưới sàn, đều như hơi thở.
Cô ngồi dậy, lấy cây đèn lặn, rón rén xuống cầu thang.
Ống bơm vẫn thòng xuống miệng hầm. Cô kéo nó ra, mở hết nắp, rọi đèn xuống. Rồi cô leo xuống, đếm bậc. Bậc thứ ba mươi. Bậc thứ ba mươi mốt. Chân cô chạm sàn bê tông, khô.
Không còn nước. Không còn một vũng nào, chỉ có lớp sàn còn hơi ẩm, loang lổ vệt muối. Cảm biến mới gắn ở chân thang, đèn xanh nhấp nháy.
Cô rọi đèn lên vách, và đứng sững.
Những vệt trắng mờ sáng nay cô chụp ảnh, những chỗ cô cào móng tay vào, bây giờ đã được trét kín bằng một lớp keo xám dày, láng, mép keo còn bóng. Không phải trét bừa cả vách. Trét đúng từng chỗ cô đã chụp, đúng thứ tự, như có ai đứng đây cầm ảnh của cô mà dò theo. Cô đặt lòng bàn tay lên một mảng keo.
Nó còn hơi ấm. Keo hai thành phần, lúc đóng rắn thì toả nhiệt. Ấm cỡ này là mới trét chừng hai, ba tiếng trước. Lúc cô với Bông đang ngồi ăn bánh canh ở chợ Rìa.
Ở mép mảng keo lớn nhất, ai đó dán một miếng băng keo xanh đánh dấu, loại băng keo thợ dùng để ghi chú chỗ đã xử lý. Trên băng keo in một dòng mực trắng:
ĐAT – ĐỘI AN TOÀN KHOANG
Đội bơm của ban kỹ thuật đã về từ năm giờ chiều. Đội An toàn Khoang là đội bảo vệ và cứu hộ, mặc áo xanh đậm, đi tuần trên cầu, kéo người say rượu té xuống nước. Họ không trét keo. Họ không có lý do gì để vào nhà cô.
Và họ đã vào nhà cô, lúc cô không có ở đó, xuống tận đáy ô, xoá sạch những gì cô thấy sáng nay.
— Hết chương 2 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe