Chương 31: Sáu trăm người khoá chốt
Sương tháo cái nón tổ trưởng màu vàng ra khỏi đầu, chìa cho Lài, ngay trên mặt nước dưới gầm cầu Tám-Chín. Đúng lúc đó, cái chốt thứ mười hai của khớp vừa nện xuống nấc khoá nghe một tiếng "cạch" khô gọn.
– Chị đội đi.
– Em đang là tổ trưởng.
– Em là tổ trưởng tạm. – Sương nói. – Tạm tới bữa nay thôi.
Lài nhìn cái nón vàng ướt sũng trong tay con nhỏ. Bốn tháng trước, Sương đội nó lên đầu ngồi trên bè công tác, cầm máy tính bảng, ngón tay lơ lửng trên màn hình rất lâu trước khi chạm xuống. Cô cầm lấy nó, đội lên.
Mười hai khớp chính. Một trăm bốn mươi bốn chốt. Mỗi khớp sáu chốt trên mặt nước, sáu chốt dưới. Chốt trên mặt nước thì người trên khoang đóng được, bằng tời tay và búa tạ, mỗi chốt cần bốn người, hai người quay tời, hai người gõ. Chốt dưới nước thì phải thợ lặn. Cả thành phố có ba tổ lặn bảo trì, mười bốn thợ. Đội An toàn có thêm sáu người lặn được. Hai mươi người cho bảy mươi hai cái chốt chìm.
Lài đứng trên bậc thép của khớp Tám-Chín, nước ngang hông, gió quất mưa vào mặt, chia việc qua vòng tay cho cả hai mươi người. Cô chưa bao giờ chỉ huy quá năm người. Cô làm như làm phiếu việc: từng khớp, từng chốt, từng người, đánh số. Hai người một chốt chìm, một người gõ, một người giữ đèn. Lặn bốn mươi phút thì lên nghỉ hai mươi. Không ai lặn một mình.
Còn phần trên mặt nước thì cô không phải chia. Nó tự chia.
Bảy giờ sáng, trên cái dốc cầu Tám-Chín có ba mươi người. Tám giờ, ở khớp Mười Một-Mười Hai có hơn một trăm, người khoang Mười Một với người khoang cảng đứng lẫn vào nhau, không ai biết ai. Chín giờ, ở khớp Năm-Sáu bên kia thành phố, những người Bờ Đông mà Lài chưa thấy mặt bao giờ đã kéo tới, áo khoác gió đắt tiền ướt sũng, tay cầm búa mượn của nhau. Ông kỹ sư trẻ mới lên thay Quyết chạy từ khớp này sang khớp kia, cầm bản vẽ bọc nhựa, chỉ từng lỗ chốt. Bình đọc tên từng khớp qua loa cột, từng khớp một, đếm số chốt đã khoá.
– Khớp Tám-Chín: mười hai trên mười hai. Khớp Năm-Sáu: bốn trên mười hai. Khớp Một-Hai: hai trên mười hai…
Cái khó nhất không phải sức người. Cái khó nhất là lỗ chốt.
Mỗi cái chốt phải lọt xuyên qua bốn cái lỗ, hai cái trên tai khớp khoang này, hai cái trên tai khớp khoang kia. Bình thường, hai khoang nhấp nhô lệch nhau, bốn cái lỗ không bao giờ thẳng hàng. Muốn đóng được thì phải làm cho hai khoang đứng ngang nhau, đúng một khoảnh khắc. Việc đó chỉ Bình làm được. Bình bơm, xả két dằn của các ô sát khớp, nâng khoang này lên một phân, hạ khoang kia xuống một phân, chờ con sóng qua, rồi nói qua tai nghe một chữ:
– Thẳng.
Và bốn cái búa tạ cùng nện xuống.
Có khi chờ ba phút mới có một chữ "thẳng". Có khi chờ hai mươi phút. Có khi vừa nện xuống được nửa chừng thì con sóng sau tới, lỗ lệch, chốt kẹt, phải rút lên làm lại.
Mười một giờ, ở chợ Rìa trên cầu Chín-Mười, bà Tám nhóm bếp.
Không phải một bếp. Bà mượn hết nồi của mười mấy gian hàng, kê thành hai hàng dài dưới mái bạt đã cột lại bằng dây thừng chằng chịt, gió thổi phồng lên xẹp xuống như cái phổi. Gạo của vựa bà Kim Hoa. Cá của mấy trại cá lồng phải xả lồng trước bão, cá mú, cá chẽm, cả cá bớp, thứ cá mà bình thường người Xóm Lưới chỉ bán chứ không ăn. Bà Tám đứng giữa hai hàng nồi, tay cầm cái vá, la như ở chợ.
– Cơm nắm! Đứa nào rảnh tay thì nắm cơm! Nắm chặt, muối mè, gói lá! Sáu trăm người chớ không phải sáu người!
Mười hai giờ trưa, Lài lên khỏi nước lần thứ tư, ngồi trên bậc thép thở. Có ai đó dúi vào tay cô một bọc lá chuối còn ấm và một chai nước ngọt.
Cô ngẩng lên. Bông đứng trên mép cầu, áo mưa màu vàng, đội cái mũ bảo hiểm xe đạp to hơn đầu nó, tay ôm một thùng nhựa đựng chai nước. Bên cạnh nó là thằng Bảo, cũng áo mưa, cũng ôm một thùng.
– Ai cho con ra đây?
– Bà Tám. – Bông nói. – Bà Tám nói con nít trong nhà trú bão ngồi không thì sợ. Cho chạy nước thì hết sợ. Bà Tám nói chỉ được chạy từ nhà trú bão tới khớp Tám-Chín với khớp Chín-Mười, không được đi xa hơn. Có anh Bảo đi với con.
Lài nhìn thằng Bảo. Thằng bé đứng thẳng, ôm thùng nước, nhìn xuống khớp nối, nơi ba nó đang đứng dưới nước tới ngực, cầm búa tạ, tóc bết vào trán.
– Ba con thấy con chưa?
– Dạ thấy rồi. – Bảo nói. – Ba con nói con đưa nước cho cô trước.
Lài cầm chai nước. Tay cô run vì lạnh. Cô nhìn con gái mình đứng trên mép khoang trong gió, mặt tái nhưng không cứng đờ như mỗi lần nhìn xuống nước sâu.
– Chạy cẩn thận. – Cô nói. – Không được tới sát mép.
– Dạ.
Hai đứa nhỏ ôm thùng nước chạy đi, về phía khớp Chín-Mười. Lài nhìn theo, rồi kéo kính lặn xuống, lộn người xuống nước.
Chiều, người ta thấy thanh tra Kiều Diễm Phương ở khớp Mười Một-Mười Hai. Chị không lặn. Chị mặc áo phao, đứng trên bậc thép nước ngang gối, hai tay quấn găng, kéo dây tời với ba ông bốc vác cảng, áo công vụ màu xám ướt đen. Người phụ tá của chị đứng trên cầu cầm ô, cầm cuốn sổ, không biết làm gì với cả hai. Ở khớp Bảy-Tám, bà Mẫn ngồi trên một cái thùng nhựa lật úp, ghi tên từng tốp người tới, tốp người về nghỉ, ai đã ăn, ai chưa, ai bị thương ở tay. Bà không nói với ai bà là chủ tịch. Có lẽ cũng không ai hỏi.
Ông Toàn không xuống khớp nào. Ông đẩy cái xe cà phê vợt ra giữa đầu cầu Sáu-Bảy, căng lại tấm bạt sọc xanh trắng, nấu nước bằng cái siêu nhôm đen thui, rót cà phê đen cho bất cứ ai đi ngang. Không lấy tiền. Ông không thấy mặt ai, ông nhận người ta bằng bước chân. Người ta nói ông rót cà phê mười hai tiếng không nghỉ.
Bốn giờ chiều: tám mươi mốt trên một trăm bốn mươi bốn.
Sáu giờ chiều, chuyến tàu cuối cùng từ Bến Mười Tám cập cầu tàu khoang Mười Hai, chậm hai tiếng vì sóng. Sau chuyến này, mọi chuyến tàu ngừng tới khi bão qua. Trên tàu có mười bảy người, đa số là người thành phố nổi đi khám bệnh trên đất liền vội vã quay về với gia đình.
Một trong mười bảy người là Tiêu Văn Nhựt.
Lài không biết anh về. Cô đang ở dưới nước, ở khớp Chín-Mười, cái chốt thứ chín. Cô chỉ biết khi trồi lên, thấy trên bậc thép có một người đàn ông đang cùng ba người khác quay cái tời tay, quay đều, mạnh, nhịp nhàng, cái nhịp của người đã đóng cừ đắp đê hai năm. Áo sơ mi còn nếp gấp, ướt dính vào lưng. Cô nhận ra cái lưng đó trước khi thấy mặt.
– Anh Nhựt.
Anh quay lại. Mặt anh đẫm nước mưa, tóc bết, mắt đỏ.
– Anh coi bản tin trên đất liền. – Anh nói, tay vẫn không rời cán tời. – Người ta chiếu lại giọng ông già. Nước dữ. Anh đứng ở lán công nhân, anh nghe ổng nói ổng là người xin giấu. Rồi anh chạy ra bến.
– Anh có thẻ. Anh ở trên đó được.
– Ờ. Anh có thẻ. – Nhựt nói. – Con chó vàng chờ con đặt tên. Mà con anh đang chạy nước ngoài này.
Lài không nói gì. Cô lặn xuống lại.
Đêm thứ Bảy là đêm dài nhất Lài từng sống.
Gió lên cấp bảy rồi cấp tám từng cơn, mưa không còn rơi mà quất ngang thành những bức màn trắng. Đèn đường trên các cầu chập chờn. Người ta đóng chốt dưới ánh đèn pin, dưới đèn lặn, dưới ánh đèn pha của cái xuồng Đội An toàn mà Hào cho chạy vòng quanh các khớp suốt đêm. Thợ lặn lên nghỉ hai mươi phút thì ngủ gục trên bậc thép, ai đó đắp tấm bạt lên. Bà Tám nấu tới nồi cơm thứ hai mươi mấy. Bông với Bảo đã bị bà Tám lùa về nhà trú bão từ chín giờ tối, vì gió. Nhựt quay tời ở khớp Chín-Mười rồi chạy qua khớp Mười-Mười Một, rồi quay lại.
– Khớp Năm-Sáu: mười hai trên mười hai. – Giọng Bình đều đặn qua loa cột, mỗi lần một khớp xong. – Khớp Hai-Ba: mười hai trên mười hai. Khớp Mười Một-Mười Hai: mười hai trên mười hai.
Mười giờ đêm: một trăm mười bảy.
Mười hai giờ đêm: một trăm ba mươi.
Hai giờ sáng: một trăm ba mươi tám.
Bốn giờ sáng Chủ nhật: một trăm bốn mươi mốt.
Rồi Bình không đếm thêm nữa.
Lài đang ở dưới nước, ở khớp Chín-Mười, ngay dưới gầm chợ Rìa. Ba cái chốt chìm cuối cùng của khớp này, ba cái thấp nhất, nằm sâu ba mét, ở phía khoang Mười. Cô với Sương đã thử từ một giờ sáng. Mỗi lần Bình nói "thẳng", hai chị em nện búa xuống, và mỗi lần đầu chốt chỉ lọt được vào cái lỗ thứ hai rồi kẹt cứng. Lệch. Không nhiều. Bằng một đốt ngón tay.
Cô trồi lên, bám vào tai khớp, kéo kính lặn ra.
– Bình. Ba chốt cuối khớp Chín-Mười. Lỗ không thẳng.
– Bình biết, chị Lài. – Giọng Bình qua tai nghe, đều, ấm. – Phía khoang Mười của khớp này thấp hơn phía khoang Chín bốn phân. Dãy ô 10-201 tới 10-240 nằm ngay sát khớp. Bốn mươi ô đó đang uống nước nhanh hơn mọi ô khác của lô Mười Hai.
Bốn mươi ô của Hòn Gió. Bốn mươi cái hòm, Quyết đã gọi chúng như vậy.
– Nâng khoang Mười lên.
– Bình chỉ còn két dằn cuối cùng của dãy đó. Hai phần trăm. Xả hết thì nâng được bốn phân, đủ cho ba cái lỗ thẳng hàng trong khoảng sáu phút. – Bình ngừng một nhịp. – Nếu xả bây giờ, khi bão tới đêm thứ Hai, dãy đó không còn gì để gánh. Nếu chờ, ba cái chốt phải đóng trong bão.
Lài nhìn lên. Trên đầu cô, qua lớp ván sàn của chợ Rìa, bà Tám vẫn đang nấu. Cô nghe tiếng vá gõ vào thành nồi.
Một trăm bốn mươi mốt cái móng. Thiếu ba cái, ở cùng một khớp. Bình đã nói đêm thứ Sáu: thiếu ba chốt ở cùng một khớp, khớp đó có thể gãy.
Sương trồi lên bên cạnh cô, kính lặn đẩy lên trán, môi tím ngắt.
– Chị Hai. Sao rồi?
Lài không trả lời ngay. Cô nhìn ba cái lỗ chốt đen ngòm dưới nước, nhìn chiếc búa tạ trong tay mình.
– Còn ba cái. – Cô nói. – Kẹt.
— Hết chương 31 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe