Chương 19: Năm Năm Hai
– Vô nhà đi ba. – Lài nói. – Đứng ngoài đó cảm bây giờ.
Ông Thới không nhúc nhích. Nước mưa chảy thành dòng từ mép mái hiên xuống vai ông, xuống hai cánh tay buông thõng. Ông nhìn cái ngưỡng cửa dưới chân mình như nhìn một cái lằn ranh vẽ bằng phấn.
– Tao nói xong rồi tao đi.
– Ba chạy xuồng hai cây số trong dông tới đây để nói một câu rồi đi? – Lài bước ra, nắm cổ tay cha, kéo. – Vô.
Cổ tay ông lạnh ngắt, cứng như một khúc cây ngâm nước. Ông để cho con gái kéo vào, đứng giữa bếp, nước nhỏ tong tong xuống sàn ván thành một vũng nhỏ quanh hai bàn chân đất. Lài lấy cái khăn tắm lớn nhất trong nhà quàng lên vai ông, rồi bật bếp, bắc ấm nước.
Ông ngồi xuống cái ghế ở đầu bàn, chỗ Bông hay ngồi ăn sáng. Cái ghế nhỏ, ông ngồi lên trông như người lớn ngồi ghế mẫu giáo. Ông lau mặt bằng mép khăn.
Ngoài kia mưa quất rào rào lên mái tôn. Dưới sàn, sóng dông đập vào thành ô 9-117 từng hồi, nghe như có ai đang gõ cửa từ dưới nước.
Lài đặt ly trà gừng trước mặt cha, rồi ngồi xuống đối diện. Hai cha con ngồi như vậy, qua cái bàn, như mỗi tuần trên Cọc Mốc. Chỉ khác là lần này cô không chờ ông nói trước.
– Ba kể con nghe. Từ đầu.
Ông Thới cầm ly trà lên bằng cả hai tay, không uống, chỉ để cho hơi nóng bốc lên mặt.
– Từ đầu là năm Năm Hai.
– Thì năm Năm Hai.
Ông im một hồi. Rồi ông nói, chậm, đều, như người đọc từng con số trên thước đồng.
– Năm đó mày mười lăm tuổi. Mày nhớ cái sà lan mình ở không?
– Sà lan số bảy. Mình ngủ ở góc mũi, chung tấm bạt với nhà ông Sáu.
– Ba năm trời. Chín nghìn người trên hai mươi mấy cái sà lan cột vô nhau, neo ngoài cửa sông. Sà lan mục. Tháng nào cũng có một cái thủng. Mùa mưa năm Năm Một, con nít bị kiết lỵ, chết mười bốn đứa. Mày nhớ không?
Lài nhớ. Cô nhớ mùi thuốc tím, nhớ một đứa con gái cùng tuổi tên Mận ở sà lan số chín, một buổi sáng không còn thấy ra lấy nước nữa.
– Đất liền hứa xây cho mình một thành phố nổi. Hứa từ năm Bốn Chín. Tới năm Năm Hai mới có tiền. Mười một lô ô nổi đầu đúc ở xưởng lớn, đúc đúng chuẩn, kéo ra lắp thành chín khoang cho người đất liền ra ở trước, với cái cảng. Lô thứ mười hai là của người Cửa Lở. Ba trăm ô. Tiền còn lại chỉ đủ đúc ở một cái xưởng nhỏ, làm gấp.
Ông đặt ly trà xuống.
– Ô nổi đúc xong phải để keo đóng rắn bốn mươi lăm ngày. Keo ở giữa lớp vỏ với lõi bê tông. Đủ bốn lăm ngày thì nó cứng như đá, nước không vô được. Tháng Tư năm đó, lô Mười Hai mới đóng rắn được hai mươi tám ngày. Đài báo có một cơn bão đi vô vịnh, sáu ngày nữa tới.
– Rồi ba ký.
– Ba là trưởng ca kiểm định. – Ông nói. – Không có chữ ký của trưởng ca thì không ô nào được kéo ra. Ba đứng trong xưởng, ba sờ từng ô. Mặt ngoài cứng rồi. Bên trong chưa. Ba biết. Kỹ sư của xưởng biết. Người đất liền xuống giám sát cũng biết. Không ai nói. Người ta đứng chờ ba.
Ông nhìn xuống hai bàn tay mình, hai bàn tay to bè, khớp ngón u lên như mắt tre.
– Ba ký đạt. Ba trăm ô. Sáng thứ Sáu mười chín tháng Tư, hạ thuỷ. Tối thứ Năm tuần sau, bão vô. Chín nghìn người ngủ trên lô Mười Hai, không ai chết. Không một ai.
Lài ngồi im. Cô nhớ cái đêm bão đó. Cô nhớ cái sàn nhà mới tinh còn mùi sơn, rung lên dưới lưng mình, nhớ mẹ không còn nằm bên cạnh, nhớ cha ngồi thức trọn đêm ở ngưỡng cửa, quay mặt ra biển. Cô đã tưởng ông ngồi đó vì nhớ mẹ.
– Cái đinh. – Cô nói.
– Ba hàn cái đinh để coi. – Ông Thới nói. – Ba nghĩ, keo chưa đủ ngày, thì có ngày nó uống nước. Ba không biết ngày nào. Năm năm, hai chục năm, ba không biết. Ba hàn một cái đinh ngay mặt nước, ở cái ô nhà mình, khắc tên mày lên. Ba nói với mày: bữa nào nước lên khỏi cái đinh là nhà mình nặng. Ba nói vậy để mày nhớ mà coi giùm ba.
– Con quên.
– Ờ. Ba cũng mong mày quên.
Ngoài cửa sổ, một tia chớp loé lên.
– Mười bốn năm nó không sao. – Ông nói tiếp. – Mười bốn năm ba sống với cái chữ ký đó, ba bắt đầu tin là trời thương. Năm Sáu Sáu, ba đã giữ Cọc Mốc tám năm. Sáng nào ba cũng ngó kính về mười hai tấm mốc mạn, việc của trạm thứ mười hai, ba ngó cho có. Tháng Mười năm đó, ba thấy cái mũi tam giác khoang Chín xuống hai phân. Ba tưởng ba ngó lệch. Qua tháng Mười Một, xuống thêm hai phân nữa. Khoang Mười, khoang Mười Một cũng vậy. Mấy khoang kia đứng yên.
– Ba biết liền là lô Mười Hai.
– Ba biết liền là cái chữ ký của ba.
– Ba lên Nhà Neo. Ba gặp bà Mẫn. Bả mới làm chủ tịch được ba năm. Ba kể bả nghe hết. Năm Năm Hai. Keo. Cái bão. Ba nói bà muốn đuổi tôi, bắt tôi ra toà, cái gì cũng được. Bả ngồi nghe, không nói gì. Rồi bả hỏi ba: ông muốn tôi làm gì.
– Ba nói gì?
Ông Thới ngẩng lên nhìn con gái lần đầu tiên từ lúc ngồi xuống. Mắt ông đỏ, không biết vì nước mưa hay vì cái gì khác.
– Ba nói: bà đừng cho ai biết.
Lài nghe trong ngực mình có cái gì đó trượt xuống, như một quả dọi rơi khỏi tay.
– Ba nói vậy vì ba sợ ra toà?
– Ba nói vậy vì ba đã đi bộ năm tháng từ trại này qua trại kia gọi tên mày. – Giọng ông khàn đi. – Đất liền mà biết khoang Chín chìm thì ba mươi ngày sau người ta chia Xóm Lưới ra. Con nít một trại. Người già một trại. Người Cửa Lở đi chót. Ba ngồi trong phòng bà Mẫn, ba thấy lại cái cổng trại thứ mười một. Ba nói: bà cho tôi thời gian. Thay ô từ từ. Đừng để ai biết, đừng để đất liền biết, thay xong rồi nói cũng được.
– Rồi ba tính toạ độ.
– Bả hỏi: vậy còn mạn nổi. Luật bắt có người kiểm bằng mắt. Ba nói tôi lo. – Ông xoay ly trà trên bàn một vòng. – Ba ngồi bên cái kính mỗi sáng, ba đọc khoang Chín xuống bao nhiêu, ba tính vạch sơn phải lên bao nhiêu cho trùng mặt nước, ba gọi radio về. Nửa năm một lần. Bình làm phiếu.
– Bình làm phiếu, rồi con sơn, rồi con ký.
Ông Thới không trả lời.
– Ba biết người ký là con. – Lài nói. – Ba biết từ đầu.
– Ba biết.
Câu đó nằm giữa cái bàn như một cái đinh vừa đóng xuống, không rút ra được nữa. Lài đứng dậy, đi tới bồn rửa chén, mở vòi nước, rồi tắt.
– Bảy lần. – Cô nói. Giọng cô không run, cô ngạc nhiên vì nó không run. – Bảy lần con ra bè, con nhúng cọ xuống nước, con nheo mắt coi cái vạch có thẳng không. Bảy lần con ký. Lần đầu tiên con ký xong, con mua bánh bông lan cho con Bông. Con vui, ba. Con tưởng người ta tin con. Ba ngồi trên cái cột đá đó, ba nhìn qua cái kính, ba thấy con đứng trên bè sơn cái vạch ba tính cho con, mà ba không nói một tiếng.
– Ba không dám.
– Ba không dám, mà ba dám để con ký.
Ông Thới cúi đầu. Cái khăn tắm trượt khỏi một bên vai ông, rơi xuống sàn. Ông không nhặt.
– Ba nghĩ tụi nó thay ô kịp. – Ông nói, rất khẽ. – Bả nói bốn năm. Ba nghĩ bốn năm. Thay xong thì không ai phải biết, cái vạch của mày thành vạch đúng, cái chữ ký của mày thành chữ ký đúng. Ba nghĩ vậy. Ba nghĩ được vậy là vì ba muốn nghĩ vậy.
– Còn cái đinh thứ hai?
Ông im một hồi lâu.
– Năm Sáu Bảy, sau đợt sơn thứ hai, ba không ngủ được. Một đêm ba chạy xuồng qua đây, lặn xuống dưới nhà mày. Ba hàn thêm một cái, chỗ khuất, đúng mặt nước năm đó. Ba không ghi nó vô đâu hết. – Ông ngừng lại. – Ba muốn có một chỗ nói thật. Một chỗ không ai sơn đè lên được. Mà ba cũng không dám để ai thấy. Ba giấu nó sau cái bích chống va. Ba nghĩ, có ngày có người chui vô đó. Có ngày.
– Sao ba biết con thấy?
– Tháng nào ba cũng xuống coi nó. – Ông nói. – Đêm thứ Năm ba xuống. Rêu quanh nó chà sạch trơn, chà bằng găng, vòng tròn, từ dưới lên. Cả cái thành phố này chỉ có một người chà rêu kiểu đó. Ba dạy nó chà kiểu đó.
Lài đứng tựa lưng vào bồn rửa. Cô nhớ đêm thứ Năm vừa rồi, sau cái buổi sáng lẽ ra Hộp Đáy được mở. Cha cô đã ở ngay dưới chân cô, dưới nước, trong bóng tối, cầm đèn soi cái đinh mình hàn. Và sáng hôm sau, lần đầu tiên trong mười hai năm, ông không nói được hai chữ "nước hiền".
– Ba tới đây làm gì? – Cô hỏi. – Ba tới để con tha cho ba?
– Không. – Ông Thới lắc đầu. – Ba tới để mày khỏi phải đoán. Mày đoán thì mày sẽ đoán ba bị ép. Mày thương ba, mày sẽ đoán vậy. Ba không muốn mày tha cho ba vì một chuyện không có.
Ông cúi xuống, nhặt cái khăn tắm dưới sàn, gấp lại làm tư, đặt lên bàn, ngay ngắn, như ông vẫn gấp tấm chăn trên Cọc Mốc mỗi sáng.
Lài nhìn cái khăn gấp vuông vức. Cô nhớ ông Toàn nói ở quán cà phê: có người giấu vì xấu, có người giấu vì sợ, có người giấu vì thương. Cô đã tưởng mình sẽ biết cha mình thuộc loại nào. Bây giờ ông ngồi trước mặt cô, ướt sũng, già khọm, và ông là cả ba.
– Ba về đi. – Cô nói. – Mưa nhỏ rồi.
Ông Thới gật đầu. Ông đứng dậy, chậm chạp, một tay chống xuống mặt bàn. Ông không xin lỗi. Cô biết ông sẽ không xin lỗi. Cả đời ông chưa từng xin lỗi ai trừ một lần, với Bông, bên cái kính ngắm.
Ông đi ra tới cửa thì dừng lại. Ông nhìn lên cầu thang.
Lài nhìn theo.
Ở khúc quẹo cầu thang, chỗ tấm rèm vải hoa ngăn tầng trệt với tầng trên, tấm rèm đang đung đưa. Không phải vì gió. Cửa sổ đóng hết. Bên dưới mép rèm có hai bàn chân nhỏ xíu, trần, đứng sát nhau trên bậc thang gỗ.
– Bông. – Lài gọi.
Hai bàn chân lùi lại một bước.
– Bông, xuống đây con.
Tấm rèm vén ra. Bông đứng đó, mặc áo ngủ, tay ôm cái vỏ ốc tù và vào ngực. Mặt con bé trắng bệch dưới ánh đèn vàng. Nó không nhìn mẹ. Nó nhìn ông ngoại.
Lài không biết con đứng đó từ lúc nào. Từ lúc sà lan số bảy. Từ lúc chữ ký. Từ lúc "bà đừng cho ai biết". Cô nhìn mặt con, và cô biết là từ đầu.
– Ông ngoại xin giấu hả? – Bông hỏi. Giọng nó nhỏ, rõ, như khi nó đọc bài trước lớp. – Ông ngoại xin cô Bình giấu?
Ông Thới đứng ở ngưỡng cửa, một tay vịn khung cửa. Ông mở miệng ra, rồi khép lại.
– Ông ngoại xin giấu cái đinh của mẹ chìm. – Bông nói tiếp, từng chữ một, như đang tự xếp lại cho mình hiểu. – Rồi ông ngoại bắt mẹ sơn cái vạch lên. Rồi cô Bình đọc hai mét ba mươi mốt. Rồi ông ngoại nói nước hiền.
– Bông…
– Ông ngoại nói nước hiền mà nước không hiền!
Con bé hét lên câu đó. Lài chưa từng nghe con hét như vậy, kể cả hồi nó té gãy tay ở trường. Rồi nó quay người, chạy ngược lên lầu. Tiếng chân trần thình thịch trên bậc gỗ. Tiếng cửa phòng đóng sầm.
Ông Thới đứng yên ở ngưỡng cửa rất lâu. Rồi ông bước ra ngoài, không nói gì, đi xuống bậc kênh.
Lài không gọi ông lại. Cô đi lên lầu, đứng trước cửa phòng con.
– Bông. Mẹ vô nha.
Không có tiếng trả lời. Ngoài kia mưa đã nhỏ hạt, chỉ còn lắc rắc trên mái tôn. Dưới bến, tiếng máy xuồng nhôm của cha cô nổ lạch xạch, rồi xa dần, xa dần về phía Cọc Mốc.
– Bông, mẹ vô.
Cô mở cửa.
Cái giường trống. Tấm chăn lật ra một bên. Con gấu vải nằm sấp trên gối. Cạnh con gấu là cái vòng tay của Bông, cái vòng nhỏ màu xanh lá, nằm im, đèn tắt, như con bé đã tháo nó ra đặt xuống cẩn thận trước khi đi.
Cánh cửa sổ phía sau, cửa sổ trông ra mái hiên bếp, mở toang. Gió ẩm thổi vào làm tấm rèm phồng lên.
Cái vỏ ốc tù và cũng không còn.
— Hết chương 19 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe