Chương 7: Tết ở Mũi Rạn
Chiếc ghe bầu mũi trắng của ông Sáu Mòi không còn nằm ở chỗ của nó trên bãi, và ông Sáu Mòi thì ngồi đúng chỗ ấy, trên cát, vá một tấm lưới không còn ghe để thả.
– Về rồi hả Lặn? – Ông ngẩng lên, nheo mắt vì nắng chiều. – Lớn quá. Lên núi ăn cơm tiên hả mà da trắng ra vậy?
– Dạ, con ở trong tháp, ít ra nắng. Ghe ông đâu?
Ông Sáu Mòi cúi xuống tấm lưới.
– Biển lấy rồi.
Lặn đứng đó, tay nải trên vai, cái tay nải nặng hơn lúc đi vì có thêm ba gói trà lão Khê bảo đem về biếu, và một bọc mứt gừng mua ở chợ dưới chân núi bằng tiền công chẻ củi. Ghe chở gạo của tông thả cậu xuống bến Mũi Rạn chiều hai mươi bảy tháng Chạp, rồi đi tiếp sang làng khác. Cậu được nghỉ tới sáng mùng ba.
– Bão hả ông?
– Bão không mây. – Ông Sáu Mòi nói, giọng bằng bằng như kể giá cá. – Đêm mười bảy tháng Mười Một. Trăng sáng trưng. Ghe tao neo ngoài Hòn Gù, thằng rể tao ngủ trên ghe giữ lưới. Gió nổi, xoáy, ghe lật. Thằng rể ôm cái phao vỏ dừa trôi tới sáng mới dạt vô bãi. Sống. Ghe thì không.
– Cũng như năm Kỷ Hợi.
Ông Sáu Mòi ngừng tay.
– Cũng như năm Kỷ Hợi, – ông nói. – Mà năm nay nhẹ hơn. Năm Kỷ Hợi nặng nhất.
Lặn đứng thêm một lúc, rồi đi về nhà.
Má đang ngồi trước hiên lặt rau, nghe tiếng chân thì ngẩng lên. Bà không đứng dậy, không chạy ra. Bà chỉ ngồi nhìn cậu đi từ đầu ngõ tới bậc thềm, rồi nói:
– Ốm hơn.
– Con ăn nhiều lắm má.
– Ốm hơn. – Bà đứng dậy, cầm tay nải của cậu, rồi ho. Ho một tràng, gập cả người, tay bám vào cột hiên.
– Má ho lâu chưa?
– Mùa bấc thì ho. Năm nào chả vậy. – Bà vào nhà. – Con Bống ra chợ chưa về. Nó bán cá giỏi hơn má rồi đó, người ta mua của nó vì nó nói nhiều.
Con Bống về lúc chạng vạng, đầu đội cái thúng không, thấy anh thì quăng thúng chạy tới ôm ngang bụng. Nó cao lên nửa cái đầu, răng cửa mới thay còn lởm chởm.
– Anh Lặn! Anh tu tiên được chưa? Anh bay được chưa? Anh làm phép cho em coi đi!
– Làm phép gì?
– Phép gì cũng được!
Lặn ngồi xổm xuống, bốc một nắm cát trong sân, nắm chặt lại. Cậu thở theo quyết, thổi một hơi khí ra lòng bàn tay. Tầng hai của tạp linh căn không làm được gì nhiều. Nhưng đủ để khi cậu mở tay ra, nắm cát vẫn giữ nguyên hình nắm tay, chặt như đất sét, rồi mới từ từ rã xuống.
Con Bống há miệng.
– Vậy thôi hả?
– Vậy thôi.
– Ông Lực nói anh Bền thổi một cái là cây dừa gãy ngọn.
– Anh Bền giỏi hơn anh.
Con Bống chun mũi, rồi tha thứ cho anh nó bằng cách bắt anh nó cõng ra đầu xóm khoe.
Tối hai mươi tám, ông Lực mở tiệc tất niên ở nhà ngói mới. Nhà ông có bốn chiếc ghe đậu thành hàng trên bãi, chiếc nào cũng sơn xanh mũi đỏ. Ông mời nửa làng. Lặn đi vì má bảo phải đi, người ta cho chịu lưới thì phải nể. Trên chiếu bày gà luộc, giò thủ, nem chua, canh măng, cả một con cá mú hấp to bằng bắp đùi. Ông Lực ngồi đầu chiếu, mặt đỏ vì rượu, cầm chén đi mời từng mâm.
– Thằng Bền nhà tôi vào đội tuần biển rồi bà con ơi! – Ông nói lần thứ ba trong buổi tối. – Đội của cháu tông chủ! Mười hai đứa, nó là đứa dự bị duy nhất! Tết này nó không về được vì đội nó phải trực. Nhưng nó gửi về cho tôi cái này.
Ông rút từ trong túi áo ra một viên linh thạch, giơ lên dưới ánh đèn. Viên đá xanh nhạt, trong như nước, tỏa ra một thứ ánh sáng mờ. Cả chiếu ồ lên.
Ông tới mâm Lặn, vỗ vai cậu.
– Còn thằng này, nghe nói cũng vào tám người tiểu tỷ. Giỏi! Con nhà chài mà giỏi! Ba lạng tông trả năm nay chú nhận rồi, đã trừ vô tiền lưới. Còn bốn lạng. Hai năm nữa là xong. Không vội, không vội.
– Dạ, con cảm ơn chú.
Lặn nhìn ông Lực. Ông vui thật, cái vui của người đang đi lên. Ông không phải người ác. Ông cho nửa làng chịu lưới, cho mượn ghe lúc người ta mất ghe, góp tiền sửa đình nhiều nhất làng. Lặn không ghét ông. Cậu chỉ không quên cái túi vải đỏ.
– Chú ơi, – cậu hỏi, khi ông Lực đã quay đi được nửa bước. – Năm nay ghe chú còn chở Phí tiên sư đi vòng các rạn không?
Ông Lực quay lại. Cái cười trên mặt ông vẫn còn nguyên, chỉ có đôi mắt là ngừng cười.
– Còn chứ. Tiên sư thuê thì chú chở.
– Tiên sư tìm cá bạc phải không chú?
– Cá bạc là cá bạc má, – ông Lực nói, nhanh hơn bình thường. – Mày hỏi chi? Uống nước đi, ăn đi.
Ông đi sang mâm khác.
Chiều hai mươi chín, lúc nước ròng, Lặn lấy chiếc thúng chai của nhà chèo ra rạn Hòn Gù.
Má không cản. Má chỉ đứng ở bậc thềm nhìn theo, tay cầm cái quạt nan đang quạt dở nồi bánh tét. Ngày áp Tết không ai ra biển, cả bãi vắng tanh, ghe nằm phơi bụng trên cát như những con cá chết. Gió bấc thổi rát mặt. Mặt vịnh xám, sóng bạc đầu từng vệt ngoài xa.
Hai mươi chín tháng Chạp, con nước rong. Ròng kiệt đầu giờ Mùi. Lặn neo thúng ở mép rạn, cởi áo, thở ba hơi, nín, lật người xuống nước.
Nước tháng Chạp lạnh như dao cạo. Khí trong người cậu tự chạy ra tới các đầu ngón, giữ cho tay chân không cứng lại, thứ mà mùa đông năm ngoái cậu chưa có. Cậu lặn xuống chỗ khe san hô năm trước.
Rạn Hòn Gù khác đi. Năm trước, dưới này đầy cá, cá dìa, cá mó, cá thia, từng đàn lượn quanh những cụm san hô sừng hươu. Bây giờ cá thưa thớt. Nhiều cụm san hô bị gãy, đầu gãy trắng toát như xương. Và trên những cành san hô còn lại, Lặn thấy những thứ đen sì móc vào.
Lưỡi câu. Sắt đen. Có cái gãy ngạnh, có cái còn nguyên, có cái chỉ còn trơ một đoạn xích. Hàng chục cái. Hàng trăm cái. Chúng mắc vào san hô, cắm vào khe đá, nằm lăn lóc dưới cát. Ở một chỗ trũng, một tấm lưới sắt to bằng cả sân nhà Lặn nằm vật vờ, mắt lưới là những sợi dây sắt mảnh, rỉ đỏ, rách toạc ở giữa một lỗ lớn như có cái gì đã xé tung nó từ bên trong ra.
Không có cái nào còn sáng đỏ.
Cậu nổi lên lấy hơi, lặn xuống lần nữa, rồi lần nữa. Lần thứ ba, khi cậu đang gỡ một cái lưỡi câu khỏi khe đá để xem cho rõ, thì cái túi vải trên cổ ấm lên.
Không phải ấm. Nóng. Như cục than hồng.
Cậu quay lại.
Con cá bạc đang lơ lửng sau lưng cậu, cách chừng hai sải tay. Nó lớn hơn năm trước, dài bằng cả cánh tay người lớn. Vảy bạc, viền xanh, trong nước tháng Chạp xám xịt mà vẫn sáng như có trăng chiếu. Hai bàn tay bốn ngón khép trước ngực. Trên màng tay bên phải, chỗ lưỡi câu xuyên năm trước, có một vết sẹo trắng.
Nó nhìn cậu. Rồi nó quay đầu, bơi lên.
Lặn đạp đáy, trồi lên theo.
Nó không ra khơi. Nó bơi vào một cái vũng nước lặng giữa hai tảng đá nhô của Hòn Gù, nơi lúc ròng thì thành một cái hồ nhỏ, nước trong vắt, đáy cát trắng. Lặn bám tảng đá, leo lên, ngồi trên mép vũng.
Con cá nổi lên mặt vũng. Rồi nó đứng dậy.
Lặn không biết phải gọi cái cảnh ấy là gì. Nó không biến hình như trong truyện người ta kể ở chợ, không có khói, không có ánh sáng. Nó chỉ đứng dậy, như người ta đứng dậy từ chỗ ngồi, và nửa trên của nó không còn là cá. Đó là một đứa trẻ. Một đứa con gái chừng mười tuổi, da trắng bạc như vảy, tóc dài xanh sẫm như rong biển ướt, bết vào hai vai gầy. Từ thắt lưng trở xuống vẫn là thân cá, chìm dưới làn nước trong. Hai bàn tay đặt lên mép đá, bốn ngón, có màng.
Mắt nó có mí. Lòng đen to, nâu sẫm. Cái nhìn qua bờ rào.
Nó mở miệng. Âm thanh đầu tiên phát ra không phải tiếng người, mà là một tiếng rít khẽ như gió lùa qua khe vỏ ốc. Nó ngậm miệng lại, thử lần nữa.
– Đừng.
Một chữ. Khàn, vụng, như người học nói.
– Đừng gì? – Lặn hỏi. Cậu thấy giọng mình run.
Đứa trẻ giơ một bàn tay lên. Nó chỉ về phía tây. Về phía Mỏm Đá Kình, nơi mây trắng vẫn quấn đỉnh núi.
– Đừng, – nó nói lần nữa. Rồi nó lắc đầu, như không tìm được chữ tiếp theo.
Nó giơ bàn tay kia, chỉ vào cái túi vải trên cổ Lặn, rồi chỉ vào chính ngực mình. Rồi nó giơ cả hai bàn tay lên trước mặt, các ngón co lại, xoắn vào nhau, như một tấm lưới.
Nó giật mạnh hai tay ra.
Rồi nó lùi lại, chìm xuống, thành cá, lách qua khe đá giữa hai tảng nhô, mất hút ra phía ngoài rạn, nơi sóng bấc đang đập.
Lặn ngồi trên mép đá cho tới khi nước bắt đầu lên, lạnh run cầm cập, môi tím ngắt. Trong tay cậu còn nắm cái lưỡi câu sắt vừa gỡ từ khe đá. Cậu đem nó về, giấu vào đáy tay nải.
Tết năm ấy nhà Lặn ăn bánh tét nhân đậu xanh thịt mỡ, dưa món, thịt kho trứng. Má cúng giao thừa, khấn cha về ăn Tết với ba má con, khấn tên từng người, khấn thằng Lặn lên núi được bình an. Con Bống ngủ gục trên chiếu trước khi cúng xong. Mùng một, Lặn đi chúc Tết ông Sáu Mòi, ông từ giữ đình, ông mõ Tám Cò. Không ai hỏi cậu về núi, người ta chỉ hỏi trên núi ăn uống ra sao, có lạnh không.
Sáng mùng ba, ghe tông về đón. Lặn đeo tay nải, ra tới bậc cửa thì má gọi.
– Lặn.
Cậu quay lại. Má đứng giữa nhà, sau lưng là bàn thờ cha, khói nhang còn lững lờ. Bà nhìn cậu, rồi nhìn xuống đất, rồi nhìn cậu.
– Có một chuyện má chưa nói với ai.
Lặn đứng yên.
– Đêm ấy, – má nói, – cha mày không ra coi lưới. Lưới nhà mình đêm đó phơi trên giàn, ổng biết, má biết. Ổng nói ra coi lưới là để má khỏi hỏi.
Má hít vào, rồi ho, rồi nói tiếp.
– Má đứng ở cửa nhìn theo. Ổng không xách lưới, không xách câu. Ổng xách cái đèn với con dao phay chặt cá, cái dao má dùng làm cá đuối đó. Ổng không chèo ra khơi. – Má chỉ tay ra phía bãi, rồi chỉ chếch sang trái. – Ổng chèo về phía rạn. Về phía Hòn Gù.
Ngoài bãi, ghe tông đã thả ván. Có ai đó gọi tên Lặn.
– Ba năm nay má không nói vì má không biết nói ra để làm gì, – má nói. – Giờ mày lên núi rồi. Mày ở dưới cái ánh sáng đó. Má nghĩ mày nên biết.
— Hết chương 7 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe