Chương 2: Đá Lưu Ly giữa sân đình
Con bé thứ mười một đặt tay lên đá, đá không sáng, và mẹ nó òa khóc ngay giữa sân đình, khóc to tới mức con chó vàng nằm dưới gốc bàng cũng đứng dậy bỏ đi.
– Người kế. – Vị trưởng lão ngồi sau bàn nói, không ngẩng đầu.
Sáng rằm tháng Ba, sân đình Mũi Rạn đông hơn ngày cúng đình. Người đứng chật tới tận rặng phi lao. Trẻ con từ mười hai tới mười bảy tuổi xếp một hàng dài, đứa nào cũng được mẹ tắm kỹ, chải đầu bằng nước dừa, mặc bộ áo lành nhất nhà. Ông mõ Tám Cò đứng đầu hàng, cầm cái roi mây chỉ để làm dáng.
Giữa sân, trên cái bàn gỗ lim mượn của ông từ giữ đình, đặt một hòn đá to bằng cái cối giã gạo. Đá trong như nước giếng, nhìn xuyên qua được thấy cả vân gỗ trên mặt bàn. Người ta gọi nó là đá Lưu Ly. Ai có linh căn thì đặt tay lên, đá sẽ hiện màu. Kim màu trắng, mộc màu xanh lá, thủy màu xanh biển, hỏa màu đỏ, thổ màu vàng. Ai không có thì đá cứ trong như vậy, trong tới mức tàn nhẫn.
Ngồi sau bàn là trưởng lão Quách Văn Đỗ của Thanh Triều Tông, râu dài tới ngực, áo lam thêu sóng bạc. Ông vuốt râu sau mỗi đứa, vuốt một cái nếu không có gì, vuốt hai cái nếu có. Từ sáng tới giờ, ông mới vuốt hai cái đúng một lần.
Đứng sau lưng ông là người áo xám hôm trước.
Lặn đứng ở khúc giữa hàng, ngay sau thằng Bền. Cậu nhìn người áo xám, và người áo xám đang nhìn đám đông chứ không nhìn hòn đá. Mắt ông ta dài, mí mỏng, môi lúc nào cũng nhếch cười, mà mắt thì không cười. Ông Lực đứng cạnh ông ta, tay chắp sau lưng, mặc áo dài the đen như đi đám cưới.
– Phí tiên sư đó, – thằng Bền nói nhỏ, không quay lại. – Ổng thuê ghe bố tao cả tháng nay. Trả bằng bạc nén, không trả bằng tiền đồng.
– Thuê đi đâu?
– Đi vòng vòng các rạn. Tao đi theo hai lần, ổng chỉ đứng nhìn nước, không câu không lưới gì hết. – Bền cười. – Tu tiên chắc nhìn nước cũng ra tiền.
Trương Hữu Bền mười sáu tuổi, hơn Lặn một tuổi, cao hơn một cái đầu, vai rộng như cánh cửa. Hồi nhỏ hai đứa ngủ chung một cái chõng ngoài hiên nhà Lặn mỗi khi bố Bền say rượu. Rồi nhà Bền giàu lên, có ghe mới, có nhà ngói, Bền vẫn sang ăn cá nục kho nhà Lặn như cũ. Thứ duy nhất đổi là cái áo Bền mặc, giờ là vải ta nhuộm chàm, không có miếng vá.
– Người kế.
Bền bước lên. Nó chùi tay vào ống quần hai lần rồi mới đặt lên đá.
Đá sáng.
Không phải sáng mờ như mấy đứa trước được vuốt râu một cái. Từ chỗ bàn tay Bền, hai dòng màu chảy vào lòng đá như mực nhỏ vào nước. Một dòng xanh lá, đậm như lá bàng non, một dòng vàng như nghệ. Hai dòng xoắn vào nhau, lan kín nửa hòn đá.
Sân đình ồ lên. Ông Lực bước lên một bước rồi tự dừng lại, mặt đỏ bừng.
Trưởng lão Đỗ vuốt râu ba cái.
– Mộc thổ song linh căn, – ông nói, lần đầu tiên trong buổi sáng giọng có chút gì giống vui. – Thượng phẩm. Ghi tên, ngoại môn hạng nhất, dự bị nội môn. Nhà được tông trả mười lạng một năm.
Mười lạng. Tiếng xì xào lan ra như sóng chạy trên bãi. Mẹ thằng Bền ôm mặt. Ông Lực chắp tay vái về phía bàn ba lần, rồi quay sang vái người áo xám thêm một lần nữa.
Bền quay lại nhìn Lặn, cười toét cả miệng. Lặn giơ ngón cái lên.
– Người kế.
Lặn bước tới. Cậu không chùi tay. Bàn tay cậu khô, chai ở mấy đầu ngón vì sợi cước, lòng bàn tay còn vết cứa hôm trước đã lành thành một đường mảnh như sợi tóc.
Cái vảy cá nằm trong túi áo ngực, áp vào da. Sáng nay nó ấm bình thường.
Cậu đặt tay lên đá. Đá lạnh hơn cậu nghĩ, lạnh như đá rạn lúc ròng sớm.
Một lúc, không có gì.
Rồi, rất chậm, từ dưới lòng bàn tay cậu, đá hiện ra những vệt màu. Năm vệt. Một vệt trắng, một vệt xanh lá, một vệt đỏ, một vệt vàng, một vệt xanh biển. Mỗi vệt mảnh như sợi chỉ, nhạt như màu áo phai, đứt đoạn chỗ này chỗ kia. Vệt xanh biển dày hơn bốn vệt kia một chút, chỉ một chút, như sợi chỉ đôi giữa đám chỉ đơn.
Năm vệt ấy không xoắn vào nhau. Chúng nằm cạnh nhau, rời rạc, như năm đứa trẻ đứng chờ trước cửa nhà không ai mở.
Trưởng lão Đỗ không vuốt râu.
– Tạp linh căn, – ông nói. – Năm hành đủ cả, hành nào cũng như sợi chỉ mục. Tu như vậy chậm gấp năm người thường. Bốn chục tuổi chưa chắc qua nổi Luyện Khí tầng ba. – Ông phẩy tay. – Về đi. Người kế.
Lặn nhấc tay khỏi đá. Năm vệt màu tắt từ từ, vệt xanh biển tắt sau cùng.
Cậu đã biết trước sẽ như vậy. Không ai trong họ Vạn từng có linh căn. Cha cậu không có, ông nội không có. Cậu ra đây chỉ vì má nói để coi cho biết, vì nếu không ra thì cả làng sẽ hỏi. Vậy mà khi quay lưng, cậu vẫn thấy hai bên tai mình nóng ran.
– Khoan.
Người áo xám nói. Giọng ông ta nhỏ, không cần nói to mà cả sân vẫn nghe. Ông ta cúi xuống nói gì đó vào tai trưởng lão Đỗ. Trưởng lão nhíu mày, rồi gật.
– Trong làng này, – trưởng lão Đỗ cao giọng, nhìn khắp sân, – có đứa nào biết tính con nước không? Không phải biết rằm với mùng một nước lớn. Tính được giờ nước đứng từng ngày, không cần nhìn biển.
Sân đình im một lúc. Rồi chừng chục cánh tay giơ lên, toàn con nhà chài. Lặn không giơ. Thằng Bền đứng bên cạnh bàn, đã được người của tông trao cho cái thẻ gỗ khắc tên, quay lại nháy mắt với cậu, hất hàm.
– Đứa giơ tay kia, – trưởng lão chỉ đứa gần nhất. – Sáng nay nước đứng giờ nào?
– Dạ, giờ Thìn ạ.
– Giờ Thìn đầu hay giờ Thìn cuối?
Thằng nhỏ ngập ngừng. Trưởng lão chỉ đứa kế. Đứa kế nói giữa giờ Tị. Đứa sau nói "khoảng ăn sáng xong". Trưởng lão bắt đầu vuốt râu một cái.
– Cuối giờ Thìn.
Lặn nói. Cậu không biết mình nói lúc nào. Ngón cái của cậu đã bấm xong đốt cuối của ngón trỏ từ khi trưởng lão còn chưa hỏi xong câu.
Mọi người quay lại nhìn. Trưởng lão Đỗ nhìn cậu, nhìn rồi nhíu mày như không nhớ đứa này vừa đứng trước đá.
– Nói lại.
– Sáng nay nước đứng cuối giờ Thìn. Tối nay nước đứng cuối giờ Tuất, muộn hơn sáng chừng nửa khắc. Mai nước đứng muộn hơn hôm nay gần nửa canh giờ. Nước rong lớn nhất là mười bảy, không phải rằm.
– Sao lại mười bảy?
– Dạ, nước rong trễ trăng một hai ngày. Ở đây trễ hai.
Người áo xám nhìn Lặn, môi nhếch lên. Lần này mắt ông ta cũng có cái gì đó, không phải cười, mà giống như người đi chợ vừa thấy món hàng rẻ hơn mình định trả.
– Thằng bé lặn hôm trước, – ông ta nói với trưởng lão Đỗ. – Đài Quan Triều đang thiếu người. Lão Khê đuổi đứa thứ ba trong năm rồi.
Trưởng lão Đỗ nhìn Lặn từ đầu tới chân như nhìn con cá người ta bày ra để trả giá.
– Tạp dịch, – ông nói. – Không phải đệ tử. Làm tạp dịch ở Đài Quan Triều. Ăn ở trên núi, mỗi tháng một viên linh thạch, cho học Dưỡng Khí Quyết ngoại môn, tu được tới đâu thì tới. Nhà được ba lạng một năm. Có chịu không?
Ba lạng một năm. Hai năm rưỡi là trả xong cái lưới.
Lặn quay lại tìm má. Má đứng ở rìa sân, dưới gốc bàng, tay nắm chặt quai cái nón. Con Bống đứng nép sau lưng má, chỉ ló ra một con mắt.
Má không lắc đầu. Má cũng không gật. Má chỉ đứng đó nhìn cậu, môi mím lại thành một đường thẳng.
– Con về hỏi má, – Lặn nói.
Trưởng lão Đỗ hừ một tiếng.
– Sáng mười sáu ghe tông rời bến. Không có mặt thì thôi.
Tối hôm ấy nhà Lặn không ai ăn cơm. Má ngồi vá lưới dưới đèn dầu cá, mùi dầu khét lẹt bay khắp nhà. Lặn ngồi đối diện, gỡ những mắt lưới má vá sai. Má chưa bao giờ vá sai.
– Cái núi đó, – má nói, không ngẩng lên, – là chỗ cái ánh sáng hôm mùng ba.
– Dạ.
– Mày thấy rồi hả?
– Dạ.
Má đặt con thoi xuống. Bà nhìn ra cửa, về phía tây, nơi trời tối đen, không thấy núi, chỉ thấy vài đốm đèn ghe đi lưới đêm.
– Ba năm nay, tháng nào có ánh sáng đó là tháng đó có người làng mình mất ghe. Không phải tháng nào cũng mất. Nhưng mất ghe thì tháng đó có ánh sáng. – Má quay lại nhìn cậu. – Má không biết chữ, nhưng má biết đếm.
Lặn ngồi im. Cậu chưa từng đếm như vậy. Cậu chỉ đếm con nước.
– Má không cho mày đi, – má nói, – thì mày ở nhà đi biển, rồi một đêm có ánh sáng. Má cho mày đi, thì mày lên ở ngay dưới cái ánh sáng đó. – Bà cười một cái, cái cười khô khốc. – Đằng nào má cũng thua.
– Ba lạng một năm, má.
– Má biết ba lạng một năm.
– Hai năm rưỡi là xong cái lưới. Sau đó là tiền của má với con Bống.
Má cầm con thoi lên, vá tiếp. Lần này má vá đúng.
– Đi thì đi, – bà nói. – Nhưng nghe má. Người trên núi nói gì thì dạ. Thấy gì cũng đừng có hỏi. Mày giống cha mày, thấy cái gì lạ là mò tới. Lên đó mà mò là mất mạng.
Lặn không nói gì. Cậu biết mình sẽ không hứa được điều đó, và má cũng biết.
Khuya, Bền sang. Nó không gõ cửa, nó ngồi xuống bậc thềm như mọi lần, chìa cho Lặn nửa cái bánh tráng nướng mỡ hành.
– Mẹ tao làm, – nó nói. – Mẹ tao làm cả rổ, đem cúng đình, đem biếu ông mõ, biếu cả trưởng lão. Trưởng lão không ăn, ổng nói người tu không ăn đồ phàm. – Bền nhai rốp rốp. – Tao hỏi Phí tiên sư thì ổng ăn hai cái.
– Mày thấy bố mày đưa cho ổng cái gì không?
Bền ngừng nhai.
– Cái gì?
– Lúc mày đặt tay lên đá. Bố mày đứng cạnh Phí tiên sư, dúi vào tay ổng một cái túi vải đỏ. Nặng. Ổng nhét vào tay áo.
Bền nhìn Lặn một lúc lâu. Rồi nó cười, nhưng cười chậm hơn bình thường.
– Thì tiền cảm ơn. Bố tao được ổng thuê ghe cả tháng. Người ta làm ăn, trả lễ nhau.
– Dúi trước lúc mày lên đá, không phải sau.
Bền im. Nó nhai nốt miếng bánh, phủi vụn trên đùi, đứng dậy.
– Mày đừng có nghĩ bậy, Lặn. Đá sáng là đá sáng. Bạc không làm đá sáng được.
– Tao biết. Đá của mày sáng thật. Tao thấy.
– Vậy thì thôi.
Bền đi về. Đi được một đoạn, nó quay lại, đứng giữa bãi cát dưới trăng rằm tròn vành vạnh, nói to:
– Lên núi tao bảo kê mày! Đứa nào ăn hiếp mày thì nói tao!
Lặn giơ tay lên vẫy. Cậu cười, nhưng trong bụng thì vẫn thấy cái túi vải đỏ.
Sáng mười sáu, ghe tông đậu ngoài bến Mũi Rạn.
Nó không giống bất cứ chiếc ghe nào Lặn từng thấy. Dài gấp ba ghe bầu của ông Lực, thân đen bóng như sơn mài, không có buồm, không có chèo. Dọc hai bên mạn là những đường khắc sáng mờ mờ, xanh nhạt như đom đóm ban ngày. Nó đứng im trên mặt nước, không lắc lư dù sóng đang vỗ.
Mười bốn đứa trẻ được chọn từ năm làng quanh vịnh xếp hàng lội ra. Lặn đi sau cùng, vai đeo cái tay nải má gói: hai bộ quần áo, một hũ mắm ruốc nhỏ, cuộn chỉ cước và con thoi. Cái vảy cá cậu khâu vào một cái túi vải nhỏ, đeo trên cổ bằng sợi cước, thả vào trong áo.
Má đứng trên bãi. Con Bống đứng cạnh, ôm chân má, không vẫy.
Lặn leo lên mạn ghe. Một đệ tử mặc áo lam kéo cậu lên, đẩy về phía đuôi, chỗ dành cho tạp dịch. Mạn ghe bên ấy treo những thứ đồ của tông: dây thừng, mấy cái thùng gỗ niêm phong, một cái lồng sắt không, và một chùm gì đó đen sì, buộc túm lại bằng xích.
Lặn đứng sững.
Đó là lưỡi câu. Hàng chục cái lưỡi câu sắt đen, mỗi cái to bằng ngón tay, đầu ngạnh nhọn, đuôi có xích. Trên thân cái nào cũng khắc những đường ngoằn ngoèo, sâu và đều.
Ghe tông chuyển mình, không một tiếng động, rẽ nước đi về phía Mỏm Đá Kình. Cái vảy trong túi vải trên cổ Lặn lạnh dần, lạnh dần, như cục đá vừa lấy ra khỏi hầm ướp cá.
— Hết chương 2 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe