Chương 30: Về Mỏm Đá Kình
Khi Lặn trồi lên ở mép Ghềnh Sừng, cái vảy trong miệng cậu chỉ còn ấm như một viên sỏi phơi nắng buổi chiều, và ghe tông đã đi.
Cậu thấy nó từ xa. Một vệt đen nhỏ trên mặt vịnh, xa tít về phía bắc, chạy không buồm không chèo, rẽ nước thành một đường trắng thẳng như dao rạch. Mặt trời đã chạm chân trời. Ròng chiều vừa qua, nước đang lên.
Cậu đứng trên tảng đá đen, nước ngập tới gối, hai con thoi giắt ở cạp quần, cuộn tơ trắng bạc quấn quanh cổ tay. Cậu nhìn cái vệt đen ấy cho tới khi nó khuất sau mũi đất.
Lam Đằng nổi lên bên cạnh cậu. Ông nhìn theo hướng cậu nhìn. Rồi ông chạm tay lên vai cậu, như lúc ở dưới sâu.
– Mười bảy, tháng Tám, – ông nói, từng chữ. – Nước đứng. Lạch. Chúng tôi chờ.
Rồi ông chìm xuống.
Bà Ngát không hỏi cậu đi đâu suốt một ngày. Khi Lặn trèo lên mặt tường đông lúc chạng vạng, ướt sũng, môi tím ngắt, bà chỉ liếc cậu một cái rồi nói to cho cả đội nghe:
– Thằng đếm ra sừng đo nước ngoài mép. Đo xong rồi thì vào ăn cơm.
Không ai hỏi gì thêm.
Đêm ấy, Lặn tới hầm cuối, và kể với lão Khê tất cả.
Lão nghe hết, không ngắt lời lần nào. Khi cậu kể tới con thoi lớn, lão đưa tay ra. Lặn đặt nó vào lòng bàn tay lão. Lão xoay nó dưới ánh đèn dầu, miết ngón cái qua từng khấc, dừng lại ở khấc sâu thứ hai, rồi lật lại, nhìn chữ "Vạn" khắc vụng ở mặt bụng. Lão nhìn rất lâu.
– Một thúng, một con dao, – lão nói. – Mười một đứa.
Lão trả con thoi lại cho Lặn. Rồi lão cầm cuộn tơ lên, kéo ra một sợi, thở một hơi vào nó. Sợi tơ không sáng. Khí không đi qua.
– Tơ mẹ, – lão nói khẽ. – Tao sống một trăm bốn mươi sáu năm, chưa từng cầm được một sợi. – Lão quấn sợi tơ lại. – Đủ. Phải bện. Ba sợi thành một dây. Dài chừng ba mươi sải. Con bé vá áo bện được không?
– Mây bện được.
– Ừ. – Lão gật. – Giờ thì nói tao nghe. Mày định về Mỏm Đá Kình bằng cách nào? Tao thì về bằng cách nào? Xích này không phải xích nút.
Lặn không trả lời được.
Câu trả lời tới vào cuối tháng Tư, từ một người cậu không ngờ.
Quyền đứng ở cửa hầm dây đội vá trận lúc nửa đêm, một mình, áo trắng viền lam, không cầm đèn. Lặn đang ngồi một mình thắt lại những nút dây đồng hỏng sau đêm rong mười bảy tháng Tư. Cậu ngẩng lên.
– Buồng khâu, – Quyền nói. – Ngươi đã vào chưa?
– Chưa.
– Đi với ta.
Quyền là cháu đích tôn tông chủ. Người canh cổng hậu cứ nhìn Quyền, nhìn Lặn đi sau Quyền nửa bước, rồi cúi đầu, mở cổng. Người canh cửa buồng khâu thì ngập ngừng lâu hơn. Quyền chỉ nhìn hắn. Hắn mở.
Buồng khâu nằm ở góc sâu nhất của hậu cứ, sát vũng nhốt, như Bền nói. Không có cửa sổ. Một ngọn đèn lồng vỏ ốc treo giữa trần. Mùi muối, mùi tanh, và một mùi khác, ngọt lợ, như mùi cá phơi lâu ngày trong bóng râm.
Giữa buồng là một cái bàn đá dài, mặt bàn khoét một cái rãnh chạy dọc, rãnh dẫn xuống một cái lỗ thoát nước ở chân bàn. Trên giá gỗ dọc vách là những con dao. Mỏng, dài, lưỡi cong, cán bọc da cá đuối. Dưới giá là mấy cái chum sành bịt miệng.
Và trên một cái kệ thấp ở góc buồng, có một cái hộp gỗ.
Quyền mở nó.
Năm viên châu, mỗi viên nằm trong một ô lót bông. Trắng, trong, to bằng quả trứng gà, ánh xanh lam tỏa từ trong lõi. Viền ngoài của cả năm viên đều đã ngả màu sữa. Mỏng. Như một lớp màng.
Trên nắp hộp, mặt trong, dán một mảnh giấy. Chữ viết nhỏ, đều, nét đẹp của người quen giữ sổ: "Châu hư. Đã tắt. Gửi Ty Thuế hủy." Dưới dòng chữ là một con dấu đỏ. Ba ngấn sóng trong một vòng tròn.
Quyền đứng nhìn mảnh giấy rất lâu.
– Chữ này, – Quyền nói, – ta thấy trong sổ kho của tông. Từng trang.
Quyền đóng nắp hộp lại. Đặt nó về chỗ cũ, đúng từng dấu bụi. Rồi Quyền quay sang Lặn.
– Ở cồn cát, ngươi nói cái lưới dưới chân tháp làm bão. Ta không tin. Ta không nói ta không tin, nhưng ta không tin. – Quyền ngừng một nhịp. – Bây giờ ngươi nói gì, ta nghe.
Lặn kể. Không phải tất cả. Cậu kể về Lam Uyên, về Thương Lam bà, về A Ly và mắt thứ chín, về đêm mười bảy tháng Tám năm nay và cái sóng ngược. Cậu kể về Bích Lư Phái. Cậu không kể về mắt thứ mười. Chưa.
Quyền nghe hết. Mặt Quyền không đổi. Chỉ có bàn tay buông bên hông, nắm lại, rồi thả ra.
– Vạn sư đệ, – Quyền nói. Lần đầu tiên. – Ngươi cần gì?
– Đưa thầy tôi ra khỏi thành.
Quyền nhìn cậu.
– Lão Khê là tù của Hội Đồng, – Quyền nói. – Ta không ra lệnh cho Hội Đồng được.
– Tôi biết.
– Nhưng xích của lão, – Quyền nói chậm, – không phải xích của Hội Đồng. Hội Đồng mượn của tông. Tông mượn của Ty Thuế. – Quyền liếc về phía cái hộp gỗ, về con dấu ba ngấn sóng. – Đồ của Ty Thuế, một chìa mở hết. Lồng hậu cứ cũng vậy.
Lặn hiểu.
Người giữ chìa vạn năng của đội bắt giao ở hậu cứ là một tên tán tu già, nghiện rượu, ngủ ở đầu hồi kho lưới sắt. Người duy nhất trong đội bắt giao biết hắn giấu chùm chìa ở đâu khi ngủ, là người đã ngủ cạnh hắn suốt một năm trời ở cái phản bên cạnh.
Bền nghe Lặn nói, nằm im trên phản hầm thuốc, cái đùi băng vải dày gác trên một khúc gỗ.
– Tao đi không được, – nó nói. – Mày thấy rồi.
– Tao biết.
– Nhưng tao bò được. – Bền chống tay ngồi dậy. – Lão già ngủ say lúc nào?
Giữa tháng Sáu, Chử Mặc gửi lệnh ra thành.
Không phải lệnh Hội Đồng. Lệnh của tông, triện xanh, đọc trên bậc thềm lầu tây. Đêm mười bảy tháng Tám năm Đinh Mùi, tông chủ Tạ Huyền Phong xuất quan sau bốn mươi năm bế quan. Đại lễ ba ngày ở đỉnh chính, mở từ rằm. Hội Đồng Duyên Hải cử sứ tới chứng kiến. Mọi đệ tử Trúc Cơ của Thanh Triều Tông ở tiền tuyến rút về núi dự lễ. Ghe tông tới đón ngày hai mươi tháng Sáu.
Đốc thành Liêu Quang Hạo nghe đọc xong, đứng im một lúc, rồi quay về lầu tây. Lặn nghe người ta nói ông đập vỡ một cái chén.
Rút hết Trúc Cơ của Thanh Triều Tông, tường đông chỉ còn lại đội vá trận tán tu và người của Hội Đồng.
Nhưng Lặn biết, đêm rong tháng Bảy và tháng Tám, Giao tộc sẽ không tới thành. Lam Đằng đã nói. Họ chờ ở chỗ khác.
Đêm mười chín tháng Sáu, nước ròng kiệt vào đầu giờ Tuất. Trăng chưa lên.
Bền bò. Đúng như nó nói. Nó bò qua kho lưới sắt, cái chân băng kéo lê sau lưng, không một tiếng động, như hồi nhỏ nó bò qua sân nhà ông Lực để trốn đòn. Tên tán tu già ngủ ngáy. Bền thò tay vào dưới gối hắn, rồi bò ra.
Mây đã cho người lính canh hầm cuối một chai rượu nếp nữa.
Lặn mở vòng sắt ở cổ chân lão Khê bằng cái chìa thứ ba trong chùm. Vòng sắt bật ra. Lão Khê nhìn xuống cổ chân mình, chỗ da đã chai thành một vòng đen sẫm, rồi nhìn lên Lặn.
– Hai năm thiếu hai tháng, – lão nói. – Lâu hơn tao tưởng.
Họ không đưa lão lên ghe tông. Ghe tông của Chử Mặc, đi về núi của Chử Mặc. Họ đưa lão ra rạn hàu phía tây, chỗ một chiếc ghe chài nhỏ đang neo, cách chân thành chừng hai chục sải. Trên ghe có một người đàn ông một mắt, tay trái cầm sào. Ông Vững tới từ ba hôm trước, nói là tới đón con gái về chợ.
Mây đi bên cạnh lão Khê, đỡ lão qua những mũi vỏ hàu sắc như dao. Tới mép nước, cô quay lại nhìn Lặn.
– Mũi Rạn, – Lặn nói. – Nhà tôi ở cuối xóm Bãi Ngang, sát chân đồi cát. Mây hỏi ai cũng chỉ. Nói với má tôi đây là thầy của Lặn. Má sẽ không hỏi gì.
– Còn sợi dây?
– Mây bện ở đó. Ba mươi sải. Ba sợi thành một. Tôi về lấy trước rằm tháng Tám.
Mây gật. Cô dìu lão Khê lội ra ghe. Ông Vững kéo lão lên. Lão Khê ngồi giữa khoang, khúc phi lao duỗi thẳng, quay đầu nhìn về phía thành, về phía Lặn đang đứng trên rạn.
Lão không nói gì. Lão giơ một bàn tay lên. Rồi hạ xuống.
Ghe chài nhổ neo, đi theo con nước ròng ra khỏi bóng tối của chân thành.
Lặn ném cái vòng sắt và đoạn xích xuống mép rạn hàu phía ngoài, chỗ sóng đập. Sáng mai người ta sẽ tìm thấy. Sáng mai người ta sẽ nói ông già tù tự trầm.
Bà Ngát tìm thấy đầu tiên. Lặn đứng trên mặt tường nhìn bà đứng ở mép rạn lúc ròng sáng, cúi xuống nhặt đoạn xích lên, nhìn cái vòng sắt mở, nhìn những vết chân trên cát ướt. Bà nhìn rất lâu. Rồi bà ném đoạn xích xuống nước, phủi tay, đi về hầm, hét to cho cả đội nghe:
– Lão tù què tự trầm rồi. Báo lên lầu tây.
Chiều hôm ấy, trước khi Lặn xuống ghe tông, bà Ngát dúi vào tay cậu một cuộn dây đồng mới, chưa ai đụng tới.
– Đi đường mà có lưới rách thì vá, – bà nói. Rồi bà quay đi.
Ghe tông cập bến dưới chân dãy Đá Dựng chiều hai mươi ba tháng Sáu. Chử Mặc không ra đón. Một đệ tử Ty Thu Triều đứng ở bến, đọc tên, chia việc. Tới tên Lặn, người ấy nói:
– Vạn Văn Lặn. Đại trưởng lão dặn, về Đài Quan Triều. Báo giờ nước cho đại lễ.
Lặn leo ba trăm bậc đá. Đi con đường mòn men vách núi. Qua khúc quanh cuối cùng. Ngọn tháp đá đen bốn tầng vẫn đứng trên chót đầu con cá voi đá, mái đồng xanh rêu.
Người sư huynh tầng sáu giữ tháp thay cậu đã đi. Trong tháp lạnh, bụi phủ một lớp mỏng. Cậu quỳ xuống, nhìn vào gầm chõng.
Cái chiếu cói cuộn tròn vẫn nằm đó. Cậu kéo nó ra, mở. Cái chân gỗ mun nằm bên trong, đen bóng, khâu đồng ở đầu dưới mòn vẹt, sáng mờ.
Đêm ấy là đêm hai mươi ba. Nước kém. Không phải đêm mở trận. Lặn nằm trên chõng, cái chân gỗ mun đặt bên cạnh, nghe tiếng ngân ngắn vang lên dưới nền đá lúc nước đứng, như mọi đêm. Mười nhịp thở.
Nhưng lẫn trong tiếng ngân, rất nhỏ, có một tiếng khác.
Một tiếng rít khẽ như gió lùa qua khe vỏ ốc.
— Hết chương 30 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe