Chương 36: Lưới phơi trên bãi Mũi Rạn
– Mai nước đứng giờ nào, anh Lặn?
Con Bống hỏi từ ngoài giàn phơi, hai tay đang trải một tấm lưới cước lên sào, giọng to như rao cá ngoài chợ Mũi. Nó mười bốn tuổi, cao gần bằng má, tóc cột đuôi gà, cánh tay rám nắng. Mấy đứa con nít trong xóm Bãi Ngang đứng quanh nó, chờ.
Lặn ngồi trên bậc thềm, ngón cái bấm vào đốt giữa ngón áp út.
– Sáng đầu giờ Thìn. Chiều giữa giờ Tuất. Gió bấc đầu mùa, ròng sáng thấp hơn hôm qua một gang tay.
– Đầu giờ Thìn! – Con Bống quay sang bọn nhỏ, hét như ông mõ Tám Cò. – Ròng thấp! Nhà nào bắt ốc Hòn Gù thì đi sớm!
Bọn nhỏ chạy tán loạn về các ngõ.
Đó là cuối tháng Mười năm Đinh Mùi. Gió bấc đã về được ba ngày. Mặt vịnh xám chì, sóng bạc đầu từng vệt ngoài xa. Ghe nằm phơi bụng trên bãi, lưới phơi trên giàn tre, mùi cá khô, mùi dầu rái. Cây bàng ở sân đình đã rụng gần hết lá.
Lặn về làng từ hôm hai mươi.
Chuyện ở núi, cậu nghe từng mảnh, qua ghe chở gạo, qua thư Quyền, qua miệng Bền.
Ngày mùng mười tháng Mười, trên cái cồn lưng rùa giữa Thành Lũy Hàu và Ghềnh Sừng, lúc ròng kiệt, có hai người ký một tờ đình chiến. Một người đứng trên cát, áo trắng viền lam, quyền tông chủ Thanh Triều Tông, hai mươi hai tuổi. Một người ngồi trên đuôi cá, tóc trắng như bọt sóng. Liêu Quang Hạo đứng giữa, thay mặt Hội Đồng Duyên Hải đóng triện. Tờ đình chiến không viết lên giấy. Người ta khắc nó lên một tấm đồng, vì giấy ướt thì nhòe.
Mười một cái lồng ở hậu cứ Thành Lũy Hàu mở trước đó ba ngày. Người mở là đội vá trận phía đông. Bà Lã Thị Ngát mở cái cuối cùng.
Phí Hữu Sủng bị giải về Hội Đồng cùng một hòm sổ của Ty Thuế. Chử Mặc chưa xử xong. Người ta nói ông sống được, nhưng không bao giờ cầm nổi một viên linh thạch nữa.
Quyền tháo Thu Triều Trận vào đêm rằm tháng Chín. Không phải phá. Tháo. Từng sợi, từng nút, từng cái chốt, theo cách lão Khê vẽ trên khay cát năm mươi năm trước mà không ai cần tới, theo cách Lặn chỉ lại cho Quyền. Bốn cần đá vẫn đứng giữa hồ. Quyền để nguyên. Cái gương đồng trên tầng bốn Đài Quan Triều cũng để nguyên.
Trong thư gửi xuống Mũi Rạn, chữ Quyền nhỏ, đều, câu đủ chủ vị: "Gương vẫn soi được mặt vịnh. Từ tháng Mười, Ty Thu Triều đổi tên là Ty Báo Bão. Ghe tông sẽ đi dọc vịnh đánh mõ trước khi bão tới hai ngày. Ta cần một người giữ tháp biết tính nước. Ta không cần ngươi trả lời ngay."
Lặn chưa trả lời.
Bền về làng trước cậu mười ngày. Nó đi khập khiễng, chân phải hơi kéo lê, mỗi bước như người đi trên cát lún. Nó cởi cái áo lam sẫm ở bến, gấp lại, đưa cho người của tông, rồi lội vào bãi bằng quần đùi. Ông Lực đứng trên bãi chờ, không nói gì, đỡ nó lên bậc. Bây giờ chiều nào nó cũng ra ngồi với ông Sáu Mòi vá lưới, cái chân đau duỗi thẳng ra trước, cười hô hố, kể chuyện tu tiên cho bọn nhỏ nghe như kể chuyện ma. Nó không kể chuyện đội bắt giao.
Có một chuyện cậu biết mà không ai phải kể.
Kim đan trong bụng cậu quay không ngừng. Ngày và đêm, nó hút khí. Ở trên núi, ở Đài Quan Triều, khí của biển dày, nó hút bao nhiêu cũng đủ. Ở Mũi Rạn thì không. Khí ở làng chài loãng như nước vo gạo. Mới hơn một tuần, cậu đã cảm thấy nó. Hòn tròn trong bụng quay chậm lại một chút, nặng lại một chút, như người đói ăn mà không đủ. Lão Khê đã vẽ điều ấy lên khay cát từ những ngày đầu. Kết Đan rồi thì không sống lâu ở chỗ phàm được. Ba tháng một năm. Quá ba tháng là đan mòn.
Cậu chưa nói với má.
Tối hai mươi tám, Mây về.
Ghe chài nhỏ của ông Vững cập bến lúc nước đứng tối, đúng giờ Lặn báo cho Bống, và Bống báo cho cả xóm. Ông Vững đứng ở mũi ghe, tay trái cầm sào. Mây nhảy xuống nước trước, lội vào, một cái tay nải đeo chéo vai, một cái thúng đựng kim chỉ đội trên đầu.
– Mây ở một mùa, – cô nói, khi lội tới bậc thềm, trước khi ai kịp hỏi. – Mùa bấc. Chợ Đá Trôi mùa bấc vắng. Ở đây ghe nằm bờ, lưới cần vá. Một mùa. – Cô nhìn Lặn. – Lặn còn nợ nhà Mây nửa viên đan. Trả bằng cá.
Ông Vững đứng trên ghe nhìn xuống, rít một hơi tẩu.
– Còn sống, – ông nói, giọng chậm, rè. – Vậy là trả rồi.
Lặn lội ra mạn ghe, đưa lên cho ông một cái hộp nhỏ bằng gỗ trầm, to bằng hộp quẹt diêm. Ông Vững mở nắp. Bên trong chỉ còn lớp bông cũ, lõm xuống một chỗ tròn, chỗ nửa viên thuốc đã nằm hai mươi năm. Ông nhìn cái chỗ lõm ấy rất lâu, rồi đóng nắp lại, nhét vào ngực áo.
– Nhẹ rồi, – ông nói.
Má đứng ở bậc thềm nhìn Mây một lúc lâu. Rồi bà quay vào nhà, lấy thêm một cái chén.
Tối hôm ấy, má ngồi vá lưới dưới đèn dầu cá.
Bà vá bằng hai con thoi. Một to, một nhỏ. Con thoi to có chữ "Vạn" khắc vụng ở mặt bụng. Con thoi nhỏ có khấc sâu thứ hai lệch sang phải nửa ly. Bà dùng con to cho mắt lớn, con nhỏ cho mắt nhỏ, đổi qua đổi lại, như thể bà đã quen dùng cả hai từ lâu.
Mây ngồi đối diện, xâu chỉ cho bà. Con Bống ngủ gục trên chiếu.
Lặn ngồi trên bậc cửa, nhìn ra bãi. Trăng hai mươi tám không có. Sao sáng như rắc muối. Ngoài kia, ở phía tây, đầu kia vịnh Rạng, Mỏm Đá Kình chỉ là một vệt đen mờ. Trên chót đầu của nó, có một đốm sáng nhỏ. Đèn tầng bốn Đài Quan Triều. Người của Quyền thắp mỗi đêm, để ghe đi đêm có chỗ nhìn về.
– Má, – Lặn nói.
Má không ngẩng lên.
– Má biết rồi, – bà nói. – Con nhỏ Mây nói với má.
Lặn quay lại nhìn Mây. Mây cúi xuống cuộn chỉ, không nhìn cậu.
– Ba tháng một năm, – má nói. Con thoi lớn trong tay bà đi qua một mắt lưới, vòng lên, xiết. – Cha mày đi biển, một năm ở nhà được mấy tháng? Mùa nồm đi lưới đêm, mùa bấc mới nằm bờ. Ba tháng. – Bà cắn đứt sợi chỉ. – Má quen rồi.
Lặn không nói được gì.
– Cái tháp đó, – má nói, – từ giờ nó báo bão hả?
– Dạ.
– Thì mày lên đó mà báo. – Bà cầm con thoi nhỏ lên, đưa cho cậu. – Mày đem cái này theo. Cái kia để má giữ.
Lặn cầm lấy con thoi nhỏ. Nó ấm. Ấm từ bàn tay má.
Ngày mười tháng Mười Một, trước khi về núi, Lặn đi một mình ra rạn Hòn Gù.
Lúc ròng kiệt. Gió bấc thổi rát mặt. Cậu neo thúng ở mép rạn, cởi áo. Mặt trong vạt áo trái, chỗ áp vào ngực, có một cái lưỡi câu thêu bằng chỉ bạc, ngạnh đã bẻ gãy.
Cậu thở ra hết, thở vào chậm, ba lần. Lần thứ tư thì nín, lật người xuống nước.
Rạn Hòn Gù vẫn còn những cụm san hô gãy trắng. Nhưng không còn lưỡi câu. Tháng Chín vừa rồi, đội vá trận phía đông Thành Lũy Hàu theo ghe tông vào vịnh, lặn gỡ suốt mười ngày. Bà Ngát chỉ huy, đứng trên ghe chửi từng người. Tấm lưới sắt rách toạc ở chỗ trũng cũng đã được kéo lên. Cá đã trở về một ít. Một đàn cá dìa lượn quanh cậu, tò mò.
Cậu lặn tới cái vũng nước lặng giữa hai tảng đá nhô. Ngồi trên mép đá.
Cậu không chờ lâu.
Cái lưng bạc trồi lên giữa vũng, uốn một vòng như rái cá. Rồi nó đứng dậy, như người ta đứng dậy từ chỗ ngồi. Tóc rong xanh sẫm bết vào hai vai gầy. Da bạc như vảy. Mắt có mí, lòng đen to, nâu sẫm. Trên màng tay phải, giữa hai ngón, có hai vết sẹo trắng nằm cạnh nhau.
A Ly đặt hai bàn tay bốn ngón lên mép đá. Nó nhìn cậu. Rồi nó nhìn cái túi vải màu chàm trên cổ cậu.
Lặn tháo cái túi ra, kéo đầu dây nút thắt nón, lấy cái vảy ra. Trắng bạc, viền xanh, to bằng móng tay cái. Ấm. Cậu chìa nó ra.
A Ly lắc đầu. Chậm, một lần.
– Của Vạn, – nó nói. Hai chữ. Đã khá hơn một chữ.
Rồi nó lùi lại, chìm xuống, thành cá, lách qua khe đá giữa hai tảng nhô, ra phía ngoài rạn, nơi sóng bấc đang đập.
Lặn ngồi trên mép đá cho tới khi nước bắt đầu lên.
Sáng hôm sau, ghe tông về đón cậu.
Má không ra bãi. Má đứng ở bậc thềm, cái quạt nan trong tay, sau lưng là bàn thờ cha, trên bàn thờ có thêm một cái bát nhang nhỏ và một khúc gỗ mun nứt dọc thớ. Lặn đã xin Quyền đem nó về. Lão Khê không có ai để thờ. Má không hỏi ông già ấy là ai trong đời cha. Má chỉ nói người ta vá lưới cho nhà mình hơn một tháng mà không lấy công, thì nhà mình thắp cho người ta một cây nhang.
Mây đứng ở mép nước, bím tóc quấn lên đầu cho khỏi bay. Cô không nói gì. Cô chìa tay ra. Lặn nắm lấy. Bàn tay cô chai ở đầu ngón vì kim, như tay cậu chai vì sợi cước. Họ đứng như vậy chừng ba nhịp thở. Rồi cô buông.
– Mùa bấc, – cô nói. – Mây ở đây. Ba tháng. Lặn về thì nhớ đem cá.
Bền ngồi trên một cái ghe lật úp ngoài bãi, cái chân đau gác lên mạn, giơ ngón cái lên.
Lặn lội ra ghe tông. Leo lên mạn. Ghe chuyển mình, không một tiếng động, rẽ nước về phía tây.
Cậu đứng ở đuôi ghe, nhìn bãi Mũi Rạn lùi dần. Những giàn tre phơi lưới. Những mái nhà. Cây bàng ở sân đình. Một đám con nít đang chạy ra bãi, dẫn đầu là một đứa con gái tóc cột đuôi gà, la to gì đó mà gió cuốn mất.
Cậu bấm đốt tay.
Ngón cái tì vào đốt giữa ngón áp út. Mười một tháng Mười Một. Nước kém vừa qua, con nước đang lớn dần. Ba ngày nữa gió bấc mạnh lên, nước ròng sẽ kiệt hơn, trễ hơn một khắc. Sáu ngày nữa là nước rong. Trên tầng bốn Đài Quan Triều, tấm gương đồng sẽ soi mặt vịnh. Nếu có gió quẩn ngoài khơi, cậu sẽ thấy trước hai ngày.
Cậu không cần giấy. Cha nói đúng. Con nước nằm trong đốt tay.
Ở phía sau, trên bãi, giọng con Bống vọng ra, to, lanh lảnh, đè lên cả tiếng sóng:
– Mai nước đứng giữa giờ Mão! Anh Lặn nói! Nhà nào đi lưới thì đi trễ!
— Hết —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe