Chương 12: Người bán châu dưới gầm cầu
Người đeo mặt nạ gỗ cuốn tấm vải đen lại, nhét vào ngực áo, đứng dậy, và đi lên cầu dây về phía cột Một, ngược chiều với hướng Tạ Minh Quyền vừa đi.
Lặn đi theo.
Cậu không định đi theo. Chân cậu tự đi, như chân cậu tự lật người xuống nước khi thấy lưới mắc rạn. Cậu cách người kia chừng hai mươi bước, đủ xa để không bị nghe tiếng chân, đủ gần để không mất dấu trong bóng tối. Chợ Đá Trôi về đêm chỉ có những đốm đèn lồng treo lưa thưa trên các cột, gió biển thổi những cây cầu dây kêu cót két, và tiếng nước xoáy dưới chân cột gầm gừ đều đều. Lặn đi chân đất. Chân đất trên cầu dây ướt, cậu đi êm hơn người mang giày.
Người đeo mặt nạ qua cầu cột Năm sang cột Bốn, cột Bốn sang cột Hai, rồi tới chân cột Một. Gã không lên những bậc đá dẫn tới cửa chính Ty Thuế Chợ. Gã đi vòng ra phía sau, nơi có một cánh cửa gỗ thấp khoét vào thân cột, sát mép nước. Gã gõ ba cái, nghỉ, gõ thêm hai cái.
Cửa mở. Ánh đèn bên trong hắt ra một vệt vàng.
– Bán được rồi, ông Phí.
– Ai mua?
Giọng ấy nhỏ, có tiếng cười ở trong. Lặn đã nghe giọng ấy ở sân đình Mũi Rạn, trên ghe ông Lực ở rạn Hòn Gù, trong cái hang dưới chân tháp.
– Một đứa trùm mũ kín mặt. Trả đủ hai trăm, không mặc cả.
– Không mặc cả. – Phí Hữu Sủng cười khẽ. – Người không mặc cả là người có tiền không phải của mình. Vào đi.
Cửa đóng lại. Lặn nằm sấp trên một gờ đá ẩm ở chân cột Hai, nước biển hắt lên ướt cả lưng, nằm như vậy cho tới khi chắc chắn không ai ra nữa.
Sáng hôm sau, cậu hỏi ông Vững về giao châu.
Cậu không hỏi thẳng. Cậu ngồi xâu chỉ cho Mây như mọi buổi sáng, rồi làm như vô tình nhắc tới chợ đêm, tới một người bán một viên ngọc sáng xanh lam giá hai trăm. Mây đang khâu thì ngừng tay. Ông Vững ở sau tấm bạt rít một hơi tẩu dài.
– Giao châu, – ông nói. – Ở chợ đêm à? Lại nữa.
– Giao châu là gì vậy chú?
Ông Vững không trả lời ngay. Ông đổ tàn thuốc ra lòng bàn tay trái, thổi đi, nhồi thuốc mới. Bàn tay phải co quắp của ông nằm im trên đùi.
– Ngoài cửa vịnh, qua khỏi Ghềnh Sừng, biển sâu xuống tối om, – ông nói. – Dưới đó có Giao tộc. Nửa người nửa cá. Người ta kể ngày xưa họ lên bờ đổi muối lấy gạo với dân chài, hiền như cục đất. Rồi không lên nữa. – Ông rít một hơi. – Giao tộc lớn lên thì trong ngực thành một viên châu. Như con trai thành ngọc, nhưng con trai thành ngọc vì hạt cát, còn giao thành châu vì năm tháng. Ba bốn chục năm mới thành. Châu ấy là khí của biển cô lại. Người tu ngậm một viên, tu một tháng bằng ba tháng. Dựng trận mà có một viên, trận mạnh gấp mười.
– Lấy châu ra thì sao?
– Thì giao chết. – Ông Vững nói, giọng không đổi. – Châu nằm ở chỗ tim.
Mây ngồi im. Cây kim trên tay cô không động.
– Nhưng có một điều, – ông Vững tiếp. – Châu lấy ra rồi, chừng nào cái giao ấy còn sống, châu sáng đều. Giao chết rồi, châu mờ dần. Mất chừng một năm thì tắt hẳn, thành viên đá trắng. Người buôn châu thật biết nhìn. Châu sống thì ánh xanh lam đi từ lõi ra viền đều nhau. Châu chết thì lõi sáng mà viền đã ngả màu sữa. – Ông nhìn Lặn bằng con mắt còn tốt. – Viên mày thấy, viền nó màu gì?
Lặn nhắm mắt nhớ lại. Ánh đèn lồng. Viên ngọc trong tay Quyền. Lõi xanh lam. Viền ngoài.
– Màu sữa, – cậu nói. – Mỏng. Như một lớp màng.
– Mới chết, – ông Vững nói. – Chưa tới nửa năm.
Không ai nói gì. Dưới chân cột, nước xoáy gầm gừ.
– Một năm nay, – ông Vững nói, – chợ đêm có bốn viên. Năm ngoái hai. Năm kia không có. Hai mươi năm nay tao chưa thấy năm nào nhiều vậy. Viên nào cũng viền sữa. – Ông gõ tẩu vào thành ghế. – Có đứa đang bắt giao ở đâu đó. Bắt nhiều. Và nó không phải tán tu, vì tán tu không ai có lưới đủ chắc để bắt giao trưởng thành.
– Sao chú biết người bán là ai?
– Tao không biết. Tao không muốn biết. – Ông nhìn ra biển. – Mày cũng đừng muốn biết.
Lặn cúi xuống, xâu chỉ tiếp. Tay cậu không run. Cậu đã học được cách để tay không run từ cái đêm nằm trên gờ đá trong hang, nhìn cột mây đi về phía Mũi Rạn.
Cậu biết người bán là ai. Cậu biết những viên châu ấy từ đâu ra. Cậu biết người đàn bà cá trong lồng đã chết vào cuối tháng Năm năm ngoái, vừa tròn một năm, và viên châu của bà bây giờ đang nằm trên tấm lưới sáng dưới chân tháp. Cậu biết những viên châu dư ra được bán ở đây, dưới gầm cầu, hai trăm một viên.
Và cậu biết, nếu bây giờ cậu đứng dậy, đi lên cột Một, đập cửa Ty Thuế Chợ, thì sáng mai người ta sẽ vớt được xác một thằng tạp dịch dưới đáy xoáy cột Bảy. Không ai hỏi.
Con tôm. Lão Khê nói đúng.
– Anh biết người bán là ai, – Mây nói nhỏ, khi ông Vững đã ngủ gật sau tấm bạt.
Lặn không trả lời.
– Tôi không hỏi đâu, – Mây nói. Cô cầm cây kim lên, khâu tiếp. Một lúc lâu sau cô nói thêm, không nhìn cậu: – Nhưng anh đừng làm chuyện gì ngu. Cá của anh còn chưa bắt xong.
Ngày mùng ba tháng Sáu, ghe đội tuần biển của Thanh Triều Tông cập chân cột Một.
Lặn đang ngồi trên thúng giữa vòng xoáy cột Tám thì thấy nó. Một chiếc ghe dài, thân đen bóng như ghe tông chở hàng nhưng thon hơn, mũi nhọn, hai bên mạn gắn những cái móc sắt. Mười hai người áo lam sẫm đứng thành hai hàng trên boong. Người đứng ở mũi mặc áo trắng viền lam.
Lặn kéo lưới, chèo thúng vào chân cột Bảy, ngồi khuất sau một tảng đá.
Đội tuần ở chợ ba ngày. Họ đi khắp các cột, vào từng sạp, hỏi han, nhìn ngó. Họ kiểm hàng ở chợ đêm, và trong ba đêm ấy không có ai bày giao châu dưới gầm cầu. Tạ Minh Quyền đi một vòng các cột vào buổi chiều thứ hai, có Phí Hữu Sủng đi bên cạnh, cười nói luôn miệng. Quyền không cười. Lúc đi ngang sạp Mây, Quyền dừng lại một nhịp, nhìn cái thúng chai úp trên sàn sạp, rồi nhìn Lặn đang ngồi xâu chỉ.
Lặn cúi đầu.
– Tạp dịch Đài Quan Triều xuống chợ bắt cá, – Quyền nói.
– Dạ, thầy con cho phép.
– Lão Khê cho phép bắt cá. – Quyền nhìn cái thúng thêm một lúc. – Chợ đêm thì ai cho phép?
Cây kim trong tay Lặn đứng lại giữa chừng. Cậu không ngẩng lên.
– Người đứng dưới gầm cầu đêm ấy không chỉ có ta, – Quyền nói, nhỏ, đủ cho mình cậu nghe. Rồi Quyền đi tiếp.
Phí Hữu Sủng đi sau Quyền nửa bước. Lúc ngang qua sạp, Sủng cũng dừng lại. Ông ta nhìn Lặn, nhìn cái thúng chai, nhìn tấm lưới cước có những mũi chỉ chữ thập, rồi nhìn lại Lặn. Mắt dài, mí mỏng, nhìn cái gì cũng như đang đếm.
– Thằng bé lặn ở Hòn Gù, – Sủng nói, môi nhếch cười. – Lớn quá. Lặn dai như cha.
Rồi ông ta đi theo Quyền. Mây nhìn theo hai cái lưng, rồi nhìn Lặn. Cô không hỏi gì.
Bền tìm tới sạp vào buổi tối thứ hai.
Nó to ra thêm, vai bè hơn, mặt rám nắng biển. Nó không gõ, không gọi, nó leo thẳng lên sàn sạp như leo lên bậc thềm nhà Lặn, rồi ôm chầm lấy Lặn, nhấc bổng cậu lên khỏi sàn.
– Thằng chài! – Nó cười. – Cả đội tao kháo nhau thằng chài cột Ba bắt cá linh bằng thúng chai. Tao nghe là biết ngay mày!
– Thả tao xuống, mày.
Bền thả cậu xuống. Rồi nó thấy Mây, đang ngồi khâu, đang ngước lên nhìn nó với một bên lông mày nhướng cao.
– Ơ. – Bền nhìn Mây, nhìn Lặn, rồi nhìn Mây. Nó cười một cái rất dài. – Ơ hơ.
– Ơ hơ cái gì? – Mây hỏi.
– Không có gì. – Bền chắp tay vái Mây một cái lễ phép tới mức giả. – Chào chị dâu.
Mây cầm cuộn chỉ ném vào giữa trán Bền. Bền né không kịp, cuộn chỉ nảy ra lăn xuống cầu dây. Lặn thấy hai tai mình nóng ran, nóng hơn cả hôm đứng trước đá Lưu Ly.
– Mày nói bậy bạ nữa là tao đẩy mày xuống xoáy, – cậu nói.
– Ừ, ừ, đẩy đi. – Bền cười tới mức phải vịn vào cột. – Tao Luyện Khí tầng tám rồi đó, mày đẩy được thì đẩy.
Họ ngồi tới khuya. Mây nấu một nồi cháo hàu trên bếp than nhỏ, hàu bóc ở chân cột, thêm hành phi với tiêu. Bền ăn ba bát. Nó kể chuyện đội tuần, chuyện đi biển, chuyện Tạ sư huynh lạnh như nước giếng nhưng chưa từng đánh oan ai, chuyện nó học được cách điều khiển ghe trận. Lặn kể chuyện cá linh, chuyện doi Lưỡi Mác. Bền cười lăn lộn. Ông Vững ở sau bạt ho húng hắng, gõ tẩu như nhắc khuya rồi.
Gần nửa đêm, Bền đứng dậy về ghe. Lặn đưa nó ra tận đầu cầu dây nối cột Ba với cột Hai.
Ở đó Bền dừng lại. Nó đứng quay lưng về phía Lặn, nhìn xuống vòng xoáy đen dưới chân cột. Gió thổi tung vạt áo lam sẫm của nó. Trên thắt lưng, cái lưỡi câu sắt khắc phù đung đưa.
– Lặn, – nó nói. Giọng nó khác hẳn lúc nãy. – Mày đừng ra chợ đêm nữa.
– Sao?
– Trong đội có đứa thấy mày đêm hai chín. Nó kể với tao vì biết tao với mày cùng làng. Nó chưa kể với ai khác. – Bền vẫn không quay lại. – Chợ đêm có những thứ mày không nên thấy.
– Như giao châu?
Bền im. Gió rít qua cầu dây.
– Tao không biết gì về giao châu, – Bền nói.
– Mày đeo cái lưỡi câu đó để nhớ mày đi bắt cái gì, – Lặn nói. – Tạ sư huynh của mày nói vậy. Mày đi bắt cái gì, Bền?
Bền quay lại. Dưới ánh đèn lồng lay lắt, mặt nó không cười. Lặn chưa bao giờ thấy mặt thằng Bền mà không có một chút cười nào, kể cả những đêm bố nó say rượu, nó chạy sang nằm chõng nhà Lặn.
– Tao chưa bắt được con nào, – Bền nói. – Đội tao đi tuần, chỉ đi tuần. Thấy thì báo về. Người khác đi bắt.
– Thấy ở đâu?
– Ở chỗ có người báo.
– Ai báo?
Bền nhìn Lặn rất lâu. Rồi nó nói, nhỏ, nhỏ tới mức gió suýt cuốn mất:
– Bố tao. Bố tao bán tin cá bạc cho đội tuần. Chỗ nào có cá bạc nổi, ngày nào, giờ nào. Năm năm nay rồi. – Nó nuốt khan. – Mày biết lâu rồi phải không?
— Hết chương 12 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe