Chương 26: Cái giá của nền rạn
Lặn ngất lần đầu vào đêm mười bảy tháng Chạp, ngay giữa lúc đang thắt dở một nút chân chó trên mắt thứ hai mươi bảy.
Cậu không biết mình ngất. Cậu chỉ biết tay mình đang xiết sợi dây đồng, rồi sợi dây tuột khỏi tay, rồi mặt tường thành lạnh áp vào má. Trước mắt cậu là những đốm trắng nổ lốp bốp như hạt muối rang. Trong bụng, ở bên trái cái nền, có một thứ gì đó đang chảy ra ngoài, chảy nhanh, như nước tháo qua một cái lỗ thủng ở đáy thúng.
Đêm ấy Giao tộc tới đông nhất từ trước tới giờ. Từ sau buổi chiều ở bãi ròng, chúng không còn chỉ bơi vào cống hậu cứ. Chúng lao vào mọi mặt tường, lùa cả đàn cá đao, cá nhám vào đập chân thành, phóng lao xương lên tận mặt tường. Hai tháng nay, đêm rong nào cũng vậy. Đốc thành Liêu Quang Hạo đã gửi ba lá thư về Hội Đồng tố Phí Hữu Sủng phá đình chiến. Hội Đồng gửi lại một lá. Trong thư ấy có kèm lá thư của Thanh Triều Tông, triện của Chử Mặc, khen Phí Hữu Sủng tỉnh táo, đã nhận ra bẫy của Giao tộc trước khi nó sập. Đốc thành Liêu đọc xong, không nói gì, đi lên lầu tây, đóng cửa hai ngày.
Chiến tranh lại như cũ. Chỉ có điều nó dữ hơn.
Đêm mười bảy tháng Chạp, Lặn đã thắt mười chín nút trước khi ngất. Mỗi nút cần một chút khí để nối phù trên dây đồng vào lưới sáng của tường. Mỗi chút khí chảy ra khỏi nền, một nửa đi vào nút, một nửa rò qua vết rạn. Cậu đã biết vậy từ lâu. Cậu nghĩ mình chịu được một đêm.
Cậu chịu được mười chín nút.
Người kéo cậu ra khỏi mặt tường là Mây.
Lặn tỉnh lại một lúc trong hầm dây, rồi mê đi, rồi tỉnh lại. Lúc tỉnh, cậu thấy ngọn đèn dầu cá, thấy cái mặt Mây cúi sát, mặt tái nhợt, tàn nhang nổi rõ trên má, môi mím chặt. Lúc mê, cậu thấy nước. Nước đen ngòm chảy ngược trong một đường hầm hẹp. Một bàn tay túm tóc cậu.
Lần thứ ba tỉnh, cậu đang nằm trên tấm phản tre trong hầm cuối cùng. Một cái chân gỗ phi lao toét đầu duỗi thẳng bên cạnh mặt cậu.
– Mả cha. – Giọng lão Khê khàn khàn, ngay trên đầu. – Mày nghĩ mày là ai? Nền rạn mà đi thắt mười chín nút một đêm. Mày tưởng mày là con cá voi?
Lặn quay đầu. Lão Khê ngồi dựa vách, hai ngón tay đặt trên cổ tay cậu. Mây ngồi xổm ở cửa hầm, nhìn vào. Người lính canh của Hội Đồng không có ở đầu kia hầm. Lặn sau này mới biết Mây đã cho hắn một chai rượu nếp mua ở chợ Đá Trôi, và hắn đang ngủ ngoài bãi đá.
– Con bé này lôi mày tới đây, – lão Khê nói. – Nó nói mày bảo nó đi hỏi người vá được. Nó hỏi cả thành, người ta chỉ tao.
– Con không bảo...
– Mây bảo, – Mây nói từ cửa hầm. – Mây bảo Lặn đi hỏi. Lặn không đi. Giờ Mây đi giùm.
Lão Khê nhổ một bãi trầu xuống sàn. Lão đã có trầu, Lặn thấy gói lá chuối mở sẵn trên phản. Lão buông cổ tay cậu ra.
– Nghe đây, thằng cá. Nền mày rạn, không lành được. Kim đan sau này của mày sẽ có vết, không ai cứu được cái đó. Nhưng rạn thì vá được. Vá không phải để nó lành. Vá để nó không rò.
– Vá bằng gì thầy?
– Bằng cái mày biết làm nhất. – Lão Khê chìa tay ra. – Đưa cuộn chỉ cước của mày đây.
Lặn móc trong túi ra cuộn chỉ. Lão cầm lấy, kéo ra một đoạn, rồi đưa đoạn chỉ và con thoi nhỏ của Lặn lên trước mặt cậu.
– Lưới cước đứt một sợi thì mày làm gì? Mày có cắt cả mảng ra thay không?
– Dạ không. Vá bằng nút mắt lưới. Luồn con thoi qua mắt bên cạnh, vòng lên, xiết.
– Thắt cho tao coi. Thắt chậm.
Lặn ngồi dậy, chân còn run. Cậu thắt. Lão Khê không nhìn tay cậu. Lão nhìn ngực cậu, nhìn bụng cậu, như nhìn khí chạy bên trong.
– Lúc luồn thì mày làm gì với hơi?
Lặn ngừng tay. Cậu chưa từng nghĩ tới chuyện ấy. Cậu thắt lại, lần này để ý.
– Hít vào, – cậu nói chậm. – Lúc vòng lên thì nín. Lúc xiết thì thở ra.
– Từ hồi nào?
– Từ hồi nhỏ. Cha con thắt cũng vậy.
– Ừ. – Lão Khê gật. – Mọi người đan lưới đều thở như vậy, mà không ai biết. Giờ mày làm ngược lại. Không phải thở theo tay. Thở như đang thắt, mà không có tay. Hít, luồn khí qua mép rạn bên này. Nín, vòng nó qua miệng rạn. Thở ra, xiết. Một nút. Rồi nút nữa. Dọc theo vết rạn, từ mép vào giữa, như vá mắt lưới đứt.
Lặn nhắm mắt.
Cậu thấy cái nền trong bụng mình. Một tảng đá ấm, nặng, nằm dưới đáy nước. Ở bên trái, cái đường nứt mảnh như sợi tóc, từ mép chạy vào gần tới giữa. Khí chảy quanh nền như nước chảy quanh chân cột, và ở chỗ đường nứt, nó rỉ ra, rỉ ra.
Cậu hít vào. Luồn.
Không có gì xảy ra. Cậu hít lại. Lần này cậu không nghĩ tới khí. Cậu nghĩ tới mắt lưới thứ hai mươi tư, tới bốn góc nút chân chó kép, tới bàn tay cha bấm ngón tay cậu vào từng đốt. Hít. Luồn. Một sợi khí rất mảnh trôi qua mép bên này của đường nứt, như sợi chỉ trôi qua khe mắt lưới.
Nín. Vòng.
Thở ra. Xiết.
Một nút. Nhỏ hơn hạt cát. Ở mép ngoài cùng của vết rạn.
Cậu mở mắt. Mồ hôi đẫm lưng.
– Một, – lão Khê nói. – Còn chừng chín trăm. Mỗi đêm nước đứng thắt mười nút. Đừng thắt hơn. Thắt hơn là rách thêm. Ba tháng thì kín. Kín mà không lành. Hiểu chưa?
– Dạ hiểu.
Lão Khê ngả lưng vào vách, nhai trầu. Lão nhìn ra cửa hầm, nơi Mây vẫn ngồi xổm.
– Con bé, – lão nói. – Ra ngoài canh cho tao. Thằng lính kia mà tỉnh thì ho một tiếng.
Mây nhìn lão, nhìn Lặn, rồi đứng dậy đi ra.
Lão Khê im một lúc lâu. Rồi lão cúi người tới gần Lặn, hạ giọng xuống, nhỏ tới mức cậu phải ghé tai.
– Ở Cồn Táng Thủy, – lão nói, – mày dò tấm lưới khắc trên vách bằng con thoi. Mày thấy gì?
Lặn nhìn lão.
– Ở mép ngoài, cạnh cần thứ tư, có một nút khắc chìm. Nút neo ngược.
– Mả cha, – lão Khê nói, rất khẽ. Không phải chửi. – Mả cha mày, thằng cá. Sáu mươi năm, mày là đứa thứ hai thấy nó.
– Đứa thứ nhất là thầy.
– Tao thấy, tao chép, tao không hiểu. – Lão nhổ bã trầu. – Tao vẽ nó lên khay cát suốt một năm mới hiểu. Nó là cái nút xả. Bích Lư Phái dựng lưới thu triều, nhưng có một đứa trong chúng nó sợ. Đứa ấy lén thắt vào mép lưới một cái nút. Thắt xuôi thì nó chỉ là một mắt lưới như mọi mắt. Thắt ngược, thì cả tấm lưới thắt ngược theo nó. Khí đang thu vào sẽ trả về biển. Lưới co lại vào trong, như cái túi rút miệng, rồi sụp. – Lão nhìn cậu. – "Thu triều, thì triều thu lại." Mày nghe thằng Quyền đọc câu ấy.
Lặn không thở.
– Đứa ấy không kịp thắt ngược, – lão Khê nói. – Biển nuốt chúng nó trước. Năm mươi năm trước, khi dựng trận đo triều dưới chân tháp, tao làm y như đứa ấy. Tao thắt cái nút ấy vào mép lưới, cạnh cần thứ tư. Mắt thứ mười. Không đứa nào biết. Chử Mặc không biết. Nó đặt chín viên châu lên chín mắt, nó tưởng lưới có chín mắt.
– Sao thầy không thắt ngược?
Lão Khê không trả lời ngay. Lão nhai trầu, chậm.
– Ba lẽ, – lão nói. – Một, phải thắt đúng lúc nước đứng. Không sớm, không muộn. Lúc nước đứng, khí cũng đứng, lưới chùng xuống, như mày sửa lưới thật thì phải sửa lúc nước đứng, chứ lúc nước chảy thì lưới căng, mày đụng vào là đứt tay. Hai, lưới chín châu nặng như kéo cả vịnh. Muốn kéo cái nút ấy ngược lại, phải có sức Kết Đan. Tao Kết Đan hỏng, mất cái chân này. Tao chỉ là Trúc Cơ.
– Lẽ thứ ba?
– Lẽ thứ ba là tao sợ. – Lão nói thẳng, không nhìn đi đâu. – Thắt ngược lúc trận đang mở, thì cả tấm lưới phản lại người đang hút khí qua nó. Chử Mặc đứng giữa hồ, hút. Nó sẽ không chết, nó Kết Đan hậu kỳ. Nhưng nó sẽ biết ai làm. Và tao biết nó làm gì với người nó biết. – Lão nhìn ra cửa hầm. – Hơn bốn mươi năm, tao biết có cái nút ấy, mà tao không xuống.
Gió bấc rít qua cửa hầm. Ở ngoài, Mây không ho.
– Còn một điều, – lão Khê nói. – Nút neo ngược thì cần cái gì?
Lặn nghĩ. Cái nút của cha. Buộc mỏ neo xuống đáy rạn. Kéo đầu này thì chặt, kéo đầu kia thì tuột. Nhưng muốn nó chịu được sức kéo của cả chiếc ghe bầu trong sóng lớn, cha luôn luồn vào giữa nút một cái...
– Chốt, – cậu nói. – Một cái chốt luồn qua lòng nút. Cha con dùng chốt gỗ ổi. Rút chốt ra thì nút tuột. Đóng chốt vào thì nó chịu được cả ghe.
Lão Khê nhìn cậu, và lần đầu tiên từ khi Lặn ra tới thành, khóe môi lão nhếch lên, cái gần như cười.
– Chốt của mắt thứ mười, – lão nói, – tao đúc bằng đồng. Chung một mẻ với cái đai đồng quấn trên đầu cần thứ tư, chỗ lưới buộc vào đá, vì chỉ có đồng cùng mẻ mới ăn vào nhau, khí chạy qua không vấp. Đúc xong tao không để ở đâu hết. Tao bịt nó vào đầu cái chân gỗ mun, làm khâu. Năm mươi năm nay nó đi theo tao lên xuống một trăm hai mươi bậc. Không ai lấy được. Kể cả tao, muốn lấy cũng phải tháo cả cái chân.
Lặn nhớ cái đêm mười bảy tháng Tám. Lão Khê ngồi trên mép chõng, tháo hai sợi dây da, đặt cái chân gỗ mun nằm dọc trên chõng của cậu, khâu đồng quay ra phía cửa.
"Đừng để ai đem đi."
– Thầy để lại cho con, – cậu nói.
– Tao để lại cho tháp, – lão Khê nói. – Mày là tháp.
Ngoài cửa hầm, Mây ho một tiếng.
Lão Khê ngả người về vách, cầm cái chốt đá lên xoay xoay. Người lính canh của Hội Đồng loạng choạng đi vào, mặt đỏ gay, nhìn thằng đệ tử nằm trên phản của lão tù, nhìn con bé vá áo đứng ở cửa, rồi ngồi phịch xuống đầu kia hầm, ngáy tiếp.
Ba tháng sau, vết rạn kín.
Lặn thắt mỗi đêm mười nút, lúc nước đứng, ngồi trên mặt tường đông, chỗ mắt thứ hai mươi tư. Không hơn. Có những đêm cậu muốn thắt mười lăm, hai mươi, và cậu nhớ tới lão Khê nói "thắt hơn là rách thêm", và cậu dừng. Tới tháng Ba năm Đinh Mùi, cậu đặt tay lên bụng, nhắm mắt, và thấy dọc theo đường nứt bên trái cái nền là một hàng nút nhỏ li ti, sát nhau như mũi khâu trên cánh tay Mây. Khí chảy quanh nền không còn rỉ ra nữa.
Đêm rằm tháng Ba, cậu lên Trúc Cơ trung kỳ.
Sáng mười sáu tháng Ba, chuông lầu tây đánh hai hồi ngắn. Lệnh của tông, không phải của Hội Đồng. Phí Hữu Sủng đứng trên bậc thềm hậu cứ, đọc cho đội bắt giao và mấy người được gọi tên.
– Thám tử báo, Giao tộc có một vụng nước ngoài mép Lam Uyên, phía tây nam Ghềnh Sừng. Chúng gọi là Vụng Lặng. Chỗ chúng đẻ con, nuôi con. Rạng sáng mười bảy, ròng kiệt, vụng cạn nhất năm. Đội bắt giao vây vụng. Bắt sống. Càng nhỏ càng tốt.
Ông ta cuộn tờ lệnh lại, nhìn xuống đám người đứng dưới thềm. Nhìn tới Lặn thì dừng, môi nhếch cười.
– Đội bắt giao cần người báo nước, – ông ta nói. – Thằng chài đi theo.
— Hết chương 26 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe