AI Truyện
Nước đứng ở Mỏm Đá Kình

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn

Nước lên ở cổng san hô

Nước đứng ở Mỏm Đá Kình · Chương 16/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 16: Nước lên ở cổng san hô

Nước đã ngập tới gối người đứng giữa hai cột san hô đỏ, và hàng người chờ ra khỏi cồn dài tới tận bậc thềm thứ ba.

– Từng người một! – Phí Hữu Sủng đứng trên một tảng đá cao cạnh cổng, giọng không còn nhỏ nữa. – Mở túi, mở áo! Cỏ Trúc Cơ là vật Thanh Triều Tông quản, tán tu không được giữ! Ai giấu, đánh gãy tay!

Sáu người của Ty Thuế đứng chặn ngang cổng, tay cầm gậy sắt khắc phù. Mỗi tán tu bước tới, họ lục túi, lật áo, có người bị bắt cởi cả giày. Củ sâm nào lục ra, họ ném vào một cái giỏ tre đặt dưới chân Sủng. Cái giỏ đã có bảy củ.

Lặn đứng ở cuối hàng phu gánh, sau lưng đoàn tông. Đoàn tông được ra bằng một lối riêng, mé bên kia tảng đá, nhanh và không ai lục soát. Tạ Minh Quyền đã ra trước cùng mười hai người đội tuần, xuống ghe để điểm danh. Sủng ở lại giữ cổng.

Phu gánh thì không ra theo lối riêng. Phu gánh khiêng đồ của tông, và đồ của tông phải đi qua tay Ty Thuế kiểm.

Lặn bấm đốt tay. Ròng kiệt giữa giờ Mão. Nước đã lên được gần một canh giờ. Ông Vững nói hai mươi năm trước, cổng chìm trước điện chừng hai khắc. Mà với cái cách nước đang dâng lên quanh chân cậu, nhanh và lạnh, cậu tính cổng sẽ chìm trong chừng ba khắc nữa.

Hàng người phía trước còn chừng bốn chục.

Cái thùng gỗ bên trái của cậu nặng một củ sâm.

Cậu đã nghĩ tới việc vứt nó đi. Ném vào một khe đá, để cho biển mang đi. Củ sâm của thằng Bền, thằng Bền đã liều nhét vào thùng cậu, liều trước mặt Sủng, trước mặt đội tuần. Bền mà bị phát hiện thì mất cái áo lam sẫm, mất chỗ trong đội, có khi mất cả chỗ trong tông. Củ sâm ấy không phải của cậu để vứt.

Cậu lùi lại sau một cột đổ, đặt gánh xuống, mở thùng.

Cậu rút con thoi ra khỏi cạp quần. Trên lưỡi gà của nó còn quấn một ít chỉ cước. Cậu tháo hết chỉ ra. Rồi cậu đặt củ sâm dọc theo thân con thoi, đầu củ áp vào lưỡi gà, và quấn chỉ cước lên trên. Quấn chặt, quấn đều, từng vòng sát nhau, như quấn chỉ chuẩn bị đan lưới. Mười vòng, hai mươi vòng, năm mươi vòng. Khi xong, con thoi của cậu trông y như mọi con thoi đan lưới khác ở bất cứ làng chài nào: một khúc xương mài nhẵn với một cuộn chỉ phồng lên ở giữa.

Cậu giắt con thoi vào cạp quần, gánh gánh lên, đi về cuối hàng.

– Con nhỏ kia, dừng lại!

Lặn ngẩng lên.

Ở cổng, người của Ty Thuế đang giữ một người con gái. Áo nâu ướt đẫm. Bím tóc quấn trên đầu đã tuột ra, xõa xuống lưng.

Mây.

– Mở áo, – người cầm gậy nói.

– Tôi không có gì.

– Mở áo.

– Tôi là con gái. Các người muốn lục thì gọi đàn bà tới lục.

Người cầm gậy nhìn Sủng. Sủng nhìn Mây từ trên tảng đá, rồi môi nhếch cười.

– Con bé vá áo cột Ba, – Sủng nói. – Bạn của thằng chài. Sạp của cha mày năm nay nộp thuế thiếu hai lần. Lục.

Người cầm gậy chộp lấy vạt áo Mây. Mây giật người ra. Bàn tay cô thò vào ngực áo, như muốn giữ thứ gì đó. Một người khác của Ty Thuế bước tới từ phía sau, rút một con dao ngắn khắc phù, chém xuống.

Không phải chém vào người. Chém vào tay. Lưỡi dao rạch một đường dài trên cẳng tay trái của Mây, từ cổ tay lên tới khuỷu. Máu phun ra, đỏ thắm trên nước biển xám.

Mây không kêu. Cô chỉ nghiến răng, ôm lấy cánh tay. Bàn tay kia của cô vẫn giữ trong ngực áo.

Người cầm gậy thò tay vào ngực áo cô, lôi ra một củ sâm màu ngà, ném vào giỏ.

– Cút.

Họ đẩy Mây qua cổng. Cô loạng choạng, ngã quỵ xuống nước, rồi đứng dậy, ôm tay, lội ra phía ngoài vòng tường. Máu nhỏ thành một vệt dài theo sau cô.

Lặn đứng trong hàng, gánh trên vai, không động đậy.

Cậu biết nếu cậu bước ra khỏi hàng lúc này, Sủng sẽ nhìn thấy. Sủng sẽ nhớ ra cậu là ai. Thằng bé lặn ở Hòn Gù. Thằng chài cột Ba. Thằng tạp dịch Đài Quan Triều. Sủng đã đếm cậu đủ lần.

Cậu đứng yên, và cậu thấy hai tay mình nắm chặt đòn gánh tới mức gỗ kêu răng rắc.

Hàng người không nhúc nhích. Ở phía trước, Giáp Văn Đùng đang cãi nhau với người của Ty Thuế. Gã có hai củ sâm, gã không chịu nộp, gã nói đó là của anh em gã liều mạng mới có. Người của Ty Thuế giơ gậy. Đùng giơ tay đỡ. Một tiếng rắc khô khốc. Đùng hét lên, cánh tay phải gập lại ở chỗ không phải khuỷu.

Nước đã tới thắt lưng.

Những người đứng ở cuối hàng bắt đầu hoảng. Có người nhìn ra vòng tường, nhìn mặt nước đang dâng. Có người quay lại nhìn vào trong cồn. Không có lối nào khác. Cái lỗ hổng phía bắc, chỗ Mây đã vào, giờ đã chìm sâu dưới nước. Những hành lang thấp đã ngập hẳn.

Lặn đặt gánh xuống.

Cậu không đi về phía cổng. Cậu đi ngược lại, vào trong, về phía bậc thềm thứ ba. Không ai để ý một thằng phu gánh đi ngược hàng.

Lúc vào cồn theo con lạch khô với Mây, cậu đã thấy ở mặt tây của vòng tường có một con lạch khác, không khô. Nó chạy từ một hành lang thấp dưới chân điện, xuyên qua chân tường, ra biển. Nó là đường thở của cả cồn. Lúc nước vào, nước đổ qua đó vào trong. Lúc nước ra, nước tháo qua đó ra ngoài, mạnh như thác.

Cậu tới chỗ con lạch. Nó rộng chừng ba sải, ngập tới ngực, nước đục ngầu. Chỗ nó xuyên qua chân tường là một cái vòm thấp, nửa chìm. Bên kia vòm là biển, ghe tán tu neo ở đó, cách chừng hai chục sải.

Cậu ngồi xuống. Nghe.

Nước đang vào. Bốn mươi nhịp. Năm mươi. Rồi ngừng. Rồi chảy ra.

Nước chảy ra qua cái vòm như ai rút nút một cái chum khổng lồ. Mặt nước trong lạch tụt xuống một gang tay, rồi hai gang, dòng chảy mạnh tới mức kéo theo cả rong, cả cát, cả một khúc gỗ mục. Một trăm bốn mươi nhịp. Rồi lại ngừng, rồi nước lại vào.

Một người bơi giỏi, đi theo dòng nước ra, sẽ được cuốn qua cái vòm trong chừng hai mươi nhịp. Một người bơi dở, không có gì để bám, sẽ bị cuốn đập vào vách vòm, hoặc bị cuốn ra xa ngoài biển rồi chìm. Một người đi ngược lúc nước vào thì không bao giờ qua.

Lặn chạy về chỗ phu gánh. Cậu lấy cuộn dây thừng của đoàn tông, cuộn dây gai dài mười sải để buộc thùng. Không ai hỏi. Mấy phu gánh khác đang nhìn ra cổng, nhìn Sủng, nhìn nước.

Cậu quay lại con lạch.

Đầu dây thứ nhất, cậu buộc vào một cột san hô to ngay sát miệng vòm, bên trong tường. Nút ghế. Nút ghế không tuột dù kéo cả trăm cân, vì càng kéo nó càng siết. Đầu dây thứ hai, cậu ngậm vào miệng.

Cậu chờ nước ra.

Nước ra. Cậu lặn vào dòng chảy.

Dòng nước cuốn cậu đi như cuốn một chiếc lá. Cậu không chống lại nó. Cậu chỉ giữ cho thân mình thẳng, chân đi trước, hai tay ép vào người. Cái vòm đá lướt qua trên đầu, sát tới mức tóc cậu quệt vào hà. Mười nhịp. Mười lăm. Cậu ra tới ngoài.

Cậu trồi lên, nhổ đầu dây ra khỏi miệng, nhìn quanh. Bên ngoài vòng tường, nước êm hơn. Gần nhất là một chiếc ghe chài nhỏ, neo cách chừng mười lăm sải. Trên mũi ghe có một người đàn ông một mắt, tay trái cầm sào.

– Chú Vững! – Lặn hét.

Ông Vững quay lại. Ông không hỏi gì. Ông đưa đầu sào ra.

Lặn bơi tới, buộc đầu dây vào chân cột mũi ghe. Nút ghế lần nữa. Sợi dây gai căng ra giữa ghe và cột san hô trong vòng tường, chui qua cái vòm, nửa chìm nửa nổi.

– Mây đâu? – Cậu hỏi.

– Trên ghe. Bị chém tay. – Ông Vững nhìn sợi dây. – Mày làm gì vậy?

– Đường ra, – Lặn nói. – Không phải qua cổng.

Cậu lặn ngược vào. Lần này ngược dòng, cậu không bơi, cậu kéo người theo sợi dây, từng sải, như kéo lưới rùng. Nước đang vào, đẩy cậu vào, nhanh. Cậu trồi lên trong lạch.

Ở mép lạch, đã có ba người đứng. Ba tán tu từ cuối hàng, chắc đã thấy cậu đi về phía này. Họ nhìn sợi dây, nhìn cậu.

– Nắm dây, – Lặn nói. – Chờ tôi nói đi thì nín thở, thả người theo nước, tay không buông dây. Hai mươi nhịp là ra. Có ghe chờ.

– Mày là ai? – Một người hỏi.

– Thằng chài, – Lặn nói.

Nước ngừng. Rồi nước ra.

– Đi.

Ba người nắm dây, lặn theo dòng. Lặn đếm. Hai mươi nhịp. Bên ngoài vòng tường, ba cái đầu trồi lên, ho sặc sụa, bám vào dây kéo về phía ghe ông Vững.

Lặn quay lại hàng người. Lần này cậu không đi lặng lẽ. Cậu đi dọc theo cuối hàng, nói nhỏ với từng người: lạch phía tây, có dây, đi theo nhịp nước ra. Người ta nhìn cậu, rồi nhìn Sủng trên tảng đá ở đằng xa, rồi rời hàng.

Tới lúc nước ngập ngang ngực, có mười một người đã theo sợi dây ra khỏi cồn. Người cuối cùng là Giáp Văn Đùng. Gã không nắm dây được bằng tay phải. Lặn buộc cổ tay trái của gã vào dây bằng một cái nút ghế nhỏ, rồi lặn cùng gã, đẩy gã qua vòm.

Khi Lặn trở về chỗ phu gánh, gánh gánh của tông lên vai, đi qua cổng trong hàng phu gánh, nước đã tới cổ. Sủng lục soát hai cái thùng của cậu, thấy trống, ném lại. Sủng không lục con thoi đan lưới giắt ở cạp quần thằng phu. Không ai lục một con thoi đan lưới.

Cổng chìm sau lưng họ chừng nửa khắc.

Đêm ấy, ghe tông neo lại ở Chợ Đá Trôi trước khi về núi.

Lặn tới sạp cột Ba lúc gần nửa đêm. Ông Vững ngồi trước sạp, hút tẩu. Mây ngồi sau tấm bạt, cánh tay trái quấn vải trắng từ cổ tay tới khuỷu, vải đã thấm hồng một vệt dài.

– Khâu được mười hai mũi, – Mây nói, giơ cánh tay lên, như khoe. – Tự khâu. Tay phải khâu tay trái. Đẹp không?

– Đẹp.

– Anh nói dối. Xấu như cái lưới rách. – Cô hạ tay xuống. – Mất củ sâm rồi.

– Tôi biết. Tôi thấy.

– Anh thấy mà anh không làm gì.

– Không.

Mây nhìn cậu. Cô không giận. Cô chỉ nhìn.

– Anh làm đúng, – cô nói cuối cùng. – Anh mà bước ra là anh mất cả cái củ trong con thoi.

Lặn giật mình. Mây cười, cái răng khểnh lộ ra.

– Tôi vá áo cho thiên hạ mười năm. Tôi nhìn cuộn chỉ là biết bên trong có gì.

Cậu rút con thoi ra, đặt xuống ván sạp. Cuộn chỉ phồng ở giữa.

– Củ sâm của thằng Bền, – cậu nói. – Không phải của tôi.

– Ai cho thì của người ấy. – Ông Vững nói. Ông gõ tẩu vào thành ghế. – Nhưng một củ sâm thì chưa đủ. Mày biết không?

– Dạ biết. Không có Trúc Cơ Đan, có sâm cũng chỉ một phần mười.

Ông Vững im lặng một lúc. Rồi ông đứng dậy, chống tay trái vào vách đá, đi vào sau tấm bạt. Lặn nghe tiếng ông lục lọi, tiếng một cái rương gỗ mở ra, đóng lại. Ông quay ra, đặt xuống ván sạp, cạnh con thoi, một cái hộp nhỏ bằng gỗ trầm, to bằng hộp quẹt diêm.

Ông mở nắp.

Trong hộp, trên một lớp bông, là nửa viên thuốc. Màu nâu sẫm như hạt cau khô, mặt cắt sáng mờ như có sương đọng.

– Trúc Cơ Đan, – ông Vững nói. – Nửa viên. Hai mươi năm trước, tao mua cả viên bằng tất cả những gì tao có. Tao vào Cồn Táng Thủy để lấy sâm, ra rồi sẽ Trúc Cơ. Ra được thì mất một con mắt với một bàn tay. Kinh mạch tay phải đứt, Trúc Cơ không nổi nữa. Tao cắt đôi viên thuốc, bán nửa để nuôi con Mây. Nửa này tao giữ. Tao không biết giữ để làm gì.

Ông đẩy cái hộp về phía Lặn.

– Giờ thì biết.

— Hết chương 16 —

Mục lục Nước đứng ở Mỏm Đá Kình

  1. 1Mẻ lưới mắc ở rạn Hòn Gù10 phút
  2. 2Đá Lưu Ly giữa sân đình12 phút đọc
  3. 3Ba trăm bậc đá và cái chân gỗ10 phút đọc
  4. 4Tẩy tủy12 phút đọc
  5. 5Con nước nằm trong đốt tay10 phút đọc
  6. 6Tiểu tỷ trên Bãi Đấu11 phút đọc
  7. 7Tết ở Mũi Rạn10 phút đọc
  8. 8Mắt lưới thứ chín11 phút đọc
  9. 9Bão không mây12 phút đọc
  10. 10Chợ Đá Trôi11 phút đọc
  11. 11Cá bạc má linh11 phút đọc
  12. 12Người bán châu dưới gầm cầu10 phút đọc
  13. 13Hai ngày trễ của nước rong10 phút đọc
  14. 14Cồn Táng Thủy11 phút đọc
  15. 15Người sợ nước11 phút đọc
  16. 16Nước lên ở cổng san hô11 phút đọc
  17. 17Một hơi dài nhất12 phút đọc
  18. 18Người mở chín mắt11 phút đọc
  19. 19Cái chân gỗ bỏ lại13 phút đọc
  20. 20Thành Lũy Hàu11 phút đọc
  21. 21Đêm nước rong đầu tiên11 phút đọc
  22. 22Lưới sắt khắc phù11 phút đọc
  23. 23Thư nhà qua mùa bấc11 phút đọc
  24. 24Thương lượng ở bãi ròng10 phút đọc
  25. 25Ba ngày trên cồn cát11 phút đọc
  26. 26Cái giá của nền rạn11 phút đọc
  27. 27Đội bắt giao10 phút đọc
  28. 28Xuống Lam Uyên10 phút đọc
  29. 29Con thoi thứ hai11 phút đọc
  30. 30Về Mỏm Đá Kình10 phút đọc
  31. 31Đêm trước con nước lớn12 phút đọc
  32. 32Phòng bế quan12 phút đọc
  33. 33Chín mắt mở12 phút đọc
  34. 34Nút thòng lọng ngược11 phút đọc
  35. 35Đan có vết12 phút đọc
  36. 36Lưới phơi trên bãi Mũi Rạn10 phút đọc

Về truyện này

Nước đứng ở Mỏm Đá Kình là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →