Chương 11: Cá bạc má linh
Chiếc thúng chai xoay một vòng trọn trên miệng xoáy, rồi đứng im, và trên cây cầu dây phía trên đầu Lặn, ba tán tu đang cười đùa thì im bặt như bị ai bóp cổ.
Không phải vì cái thúng. Vì nước.
Vòng xoáy giữa cột Bảy và cột Tám, cái vòng xoáy mà từ khi Lặn tới chợ này đã nghe kể nuốt bốn mạng người trong năm năm, cái vòng xoáy đêm nào cũng gầm gừ như bụng một con thú đói, vừa ngừng quay.
Mặt nước phẳng lì. Đen như dầu. Ánh đèn dầu cá treo trên cột đầu thúng in xuống đó một vệt vàng không gợn.
Lặn không nhìn lên cầu. Cậu nhìn xuống nước, đếm. Một. Hai. Ba.
Ở nhịp thứ năm, mặt nước dưới đèn sủi lên những đốm sáng nhỏ, bạc như vảy, lấp lánh như ai rắc một nắm bạc vụn xuống giữa đêm. Cá. Mỗi con dài chừng một gang tay, thân dẹt, hai bên má có hai đốm xanh lục phát sáng như hai con đom đóm. Cá bạc má linh. Chúng trồi lên từ đáy xoáy, nơi ngày thường không gì sống nổi, để đớp những hạt khí mà nước đứng thả ra trên mặt biển.
Lặn thả lưới.
Không quăng. Cậu buông nó xuống như người ta trải chiếu, từ mép thúng, xòe ra theo chiều nước đứng. Tấm lưới cước cũ, mắt nhỏ, mua của một bà già bán đồ cũ ở cột Mười một viên linh thạch. Nhưng ở ba mươi sáu mắt lưới quanh viền và chín mắt lưới ở giữa, có những sợi chỉ mảnh gần như trong suốt, khâu theo hình chữ thập. Chỉ khóa khí của Mây.
Mười hai. Mười ba. Cậu kéo.
Lưới nặng. Không phải nặng vì nước. Nặng vì những thân cá quẫy trong đó, quẫy mà không thoát, vì mỗi lần chúng phun khí ra định lách qua mắt lưới thì chỉ khóa khí chặn lại. Lặn kéo nhanh, đều tay, như kéo lưới rùng ở bãi nhà. Tấm lưới rời mặt nước đúng lúc vòng xoáy bắt đầu quay trở lại.
Cái thúng chao mạnh. Lặn ngồi thụp xuống giữa thúng, hai chân choãi ra, dồn trọng lượng xuống đáy. Cái thúng xoay hai vòng, ba vòng, rồi bị dòng nước hất văng ra khỏi miệng xoáy như hất một cái nắp nồi. Cậu chụp lấy mái chèo, chèo ngược mấy cái, cái thúng dạt vào chân cột Bảy, nơi nước êm.
Trong lưới có bảy con cá bạc má linh. Hai đốm xanh trên má chúng chớp chớp như mắt mèo.
Trên cầu dây, không ai cười nữa.
– Bảy con, – Mây nói, khi cậu leo lên sàn sạp cột Ba, đặt cái giỏ tre xuống. Cô cúi xuống đếm lại, đếm hai lần. – Bảy con. Một lần thả.
– Lần đầu nước đứng chưa đều. Mai được hơn.
Mây nhìn cậu như nhìn một người vừa nói mai trời sẽ mưa vàng.
– Cá bạc má linh, chợ này mua ba viên một con, – cô nói. – Bảy con là hai mươi mốt. Tôi ba phần, sáu viên ba. Anh mười bốn viên bảy.
– Cô tính nhanh quá.
– Anh tính con nước, tôi tính tiền. – Mây nhét con cá vào giỏ. – Tôi bán giùm, người ta không ép giá con gái chợ này như ép giá thằng tạp dịch.
Từ đêm ấy, Lặn có một nhịp sống mới.
Lão Khê cho cậu ở lại chợ tới hết tháng Sáu. Lá thư lão gửi xuống bằng ghe hàng chỉ có ba dòng, chữ nhỏ và nghiêng: "Hai tháng. Lọ tao tự múc. Về mà gầy hơn lúc đi thì tao quăng mày xuống bậc một trăm hai mươi." Lặn đọc xong, cười một mình, rồi gấp lá thư nhét vào trong túi vải cùng cái vảy.
Ngày hai lần nước đứng. Ngày hai lần cậu chèo thúng ra một vòng xoáy. Mười bảy cột đá có mười một vòng xoáy, mỗi vòng đứng ở một lúc khác nhau, vì nước vòng qua các chân cột theo những đường khác nhau. Có vòng đứng sớm hơn nước đứng ngoài khơi nửa khắc. Có vòng đứng muộn hơn một khắc. Có vòng không bao giờ đứng hẳn, chỉ chậm lại. Lặn mất mười ngày đầu chỉ để ngồi trên cầu nhìn, đếm, ghi vào trong đầu. Từ ngày thứ mười một, cậu không bao giờ thả lưới trượt.
Những lúc không có nước đứng, cậu ngồi ở sạp Mây, xâu chỉ cho cô, gỡ những cái áo cần vá, và tu. Tu ở chợ khó hơn ở tháp. Không có bậc đá thứ một trăm mười, không có tầng bốn gom khí. Nhưng ở đây có mười một vòng xoáy, và lúc mỗi vòng đứng, khí quanh nó đặc lại, như đáy nồi cháo lúc sắp sôi. Lặn học ngồi ngay trên thúng, giữa vòng xoáy đứng, vừa thả lưới vừa thở theo quyết.
Mây hát lúc khâu. Không phải hát cho ai nghe. Cô hát như người ta thở. Những câu hò chèo ghe của dân ven biển phía nam, giọng cô không ngọt mà mộc, có chút khàn ở cuối câu. Lặn nghe hoài thành quen, có hôm cậu đang ngồi trên thúng giữa xoáy, tự nhiên thấy mình đang nhẩm theo một câu cô hát sáng nay.
Ông Vững ngồi sau tấm bạt, hút tẩu, ít nói. Có hôm ông gọi Lặn vào, chỉ cho cậu cách nhìn khí trong một con cá bạc má linh để biết nó già hay non. Có hôm ông kể về cột đá này hai mươi năm trước, khi chưa có Ty Thuế, khi tán tu tự đặt luật cho nhau. Ông chưa bao giờ kể về Cồn Táng Thủy.
Tới cuối tháng Tư, Lặn đã có năm mươi tám viên linh thạch của riêng mình.
Rồi Giáp Văn Đùng tới.
Đùng là một gã đàn ông cao to, râu quai nón, đầu cạo trọc, Luyện Khí tầng bảy. Gã cầm đầu một đám năm sáu tán tu chuyên bắt cá linh ở các chân cột phía nam, có hai chiếc ghe gắn trận, có lưới tơ giao thật. Từ khi Lặn tới, cá của đám Đùng bắt được ít đi, vì cá bạc má linh không phải nhiều vô tận, và vì người mua ở chợ giờ chờ cá của thằng chài cột Ba.
Đùng không tới một mình. Gã đứng trên cầu dây trước sạp Mây, sau lưng có bốn đứa, cầu dây trĩu xuống, đong đưa.
– Thằng chài, – gã nói, giọng trống như gõ thùng. – Mười một vòng xoáy ở chợ này, có bảy vòng là bến của anh em tao. Muốn bắt ở đó thì nộp tiền bến. Năm phần.
Lặn đang xâu chỉ. Cậu không ngẩng lên.
– Bến của anh, ai cho?
– Tao cho.
– Thanh Triều Tông thu thuế chợ, có ghi bến của anh trong sổ thuế không?
Đùng bước lên một bước. Sàn sạp kêu răng rắc dưới chân gã.
– Mày tạp dịch của Thanh Triều Tông, tưởng tao sợ à? Ở chợ này, thằng nào chìm xuống đáy xoáy thì tông nào cũng không vớt được.
Mây đứng dậy. Lặn đặt tay lên cánh tay cô, kéo nhẹ cô ngồi xuống. Cậu ngẩng lên nhìn Đùng.
– Anh muốn năm phần, – cậu nói. – Nhưng mấy vòng xoáy ở chân cột phía nam bây giờ đâu còn bao nhiêu cá. Tôi bắt ở đó cũng chỉ lấy lẻ. Anh muốn cá thì anh phải đi chỗ khác.
– Chỗ nào?
Lặn ngập ngừng một chút. Đủ lâu cho Đùng thấy cậu ngập ngừng.
– Doi Lưỡi Mác, – cậu nói, giọng thấp xuống. – Phía nam cột Mười Bảy. Sáng mai ròng kiệt giữa giờ Mão. Cá bạc má linh lên đó đẻ. Tôi định mai ra đó.
Đùng nhìn cậu chằm chằm. Rồi gã cười hô hố.
– Mày nghĩ tao ngu à? Mày nói vậy để tao đi chỗ khác.
– Anh không đi thì tôi đi. – Lặn cúi xuống xâu chỉ tiếp. – Tôi chỉ có cái thúng. Anh có hai chiếc ghe. Anh tới đó trước thì anh lấy hết.
Đùng không nói gì nữa. Gã quay đi, kéo đám đàn em theo. Cầu dây đong đưa một hồi lâu mới đứng yên.
Mây quay sang Lặn, mắt nheo lại.
– Doi Lưỡi Mác không có cá đẻ.
– Không có.
– Thế anh định làm gì?
Lặn kéo căng sợi chỉ, cắn đứt.
– Doi Lưỡi Mác là một cái doi cát ngầm, – cậu nói. – Lúc nước lớn thì sâu ba sải, ghe đi qua thoải mái. Lúc ròng kiệt của con nước rong thì nó trồi lên khỏi mặt nước, dài chừng nửa dặm. Nước rút ở đó nhanh lắm, vì đáy dốc. Ghe nào nằm trên doi lúc ròng thì mắc cạn, phải chờ tới khi nước lên lại. Mai là mười sáu, nước rong. Ròng kiệt giữa giờ Mão. Nước lên lại tới đủ cho ghe nổi thì phải tới đầu giờ Thân.
Mây há miệng ra, rồi ngậm lại.
– Họ sẽ mắc ở đó gần bốn canh giờ, – cô nói.
– Không ai bị đánh, – Lặn nói. – Không ai chết. Họ chỉ ngồi trên doi cát giữa biển, phơi nắng, cho cả chợ nhìn.
Sáng mười sáu tháng Năm, cả Chợ Đá Trôi nhìn.
Người ta đứng chật trên những cây cầu dây phía nam, trên đỉnh cột Mười Bảy, có người leo cả lên mái chòi. Ngoài kia, giữa biển, trên một dải cát vàng nhạt dài như lưỡi giáo trồi lên khỏi mặt nước, hai chiếc ghe gắn trận nằm nghiêng như hai con cá mắc cạn. Năm sáu bóng người lóc ngóc trên cát, đi qua đi lại, đá cát, ngồi xuống, đứng lên. Một bóng người to, đầu trọc, đứng chống nạnh ở mũi ghe, hét gì đó về phía chợ mà gió cuốn mất hết.
Lặn không đứng xem. Lúc ấy cậu đang ngồi trên thúng giữa vòng xoáy cột Năm, một trong bảy cái "bến" của Đùng, thả lưới đúng lúc nước ròng kiệt, vòng xoáy ngừng quay. Mười một con.
Đùng không tới tìm cậu nữa. Không phải vì gã sợ. Vì cả chợ đã kháo nhau chuyện hai chiếc ghe mắc cạn giữa doi Lưỡi Mác, và người nào cũng thêm thắt một chút. Tới cuối tuần, trong chuyện người ta kể, Đùng đã ngồi khóc trên cát. Một người đã mất mặt cỡ đó ở Chợ Đá Trôi thì muốn đánh ai cũng phải đợi người ta quên đi đã.
Cuối tháng Năm, Lặn có tám mươi bảy viên linh thạch.
Đêm hai mươi chín tháng Năm, cậu bán mẻ cá cuối cùng của tháng ở chợ đêm dưới gầm cầu nối cột Năm và cột Sáu. Mây không đi. Mây bảo chợ đêm không phải chỗ con gái nhà tử tế bán cá, và cũng không phải chỗ anh chàng chài nên đi lâu.
Chợ đêm không có sạp. Người ta ngồi trên những gờ đá dưới gầm cầu, sát mép nước, mỗi người một cái đèn lồng nhỏ, bày hàng trên một tấm vải. Ở đây bán những thứ mà ở chợ ngày không ai dám bày. Đan dược không rõ nguồn gốc. Pháp khí không có chủ. Những cái túi da không ai hỏi bên trong có gì.
Lặn bán xong cá, đứng dậy, định đi. Cậu đi ngang một gờ đá ở góc tối nhất, nơi một người đeo mặt nạ gỗ đang ngồi sau một tấm vải đen. Trên tấm vải chỉ có một thứ.
Một viên ngọc. To bằng quả trứng gà. Trắng, trong, có ánh xanh lam tỏa ra từ trong lõi.
Lặn dừng chân. Cái túi vải trên cổ cậu lạnh đi.
Đứng trước tấm vải đen là một người khoác áo choàng xám sẫm, mũ trùm kín đầu. Người ấy cúi xuống, cầm viên ngọc lên, xoay nó dưới ánh đèn lồng. Ánh xanh lam hắt lên dưới mũ trùm, chiếu một khuôn mặt trắng như vỏ ốc tai tượng, lông mày thẳng, môi mỏng.
Tạ Minh Quyền.
Quyền đặt xuống tấm vải một cái túi gấm nặng trĩu. Người đeo mặt nạ mở ra, đếm, gật đầu. Quyền nhét viên ngọc vào trong áo choàng, quay lưng đi, bước nhanh lên cầu, khuất vào bóng tối giữa hai cột đá.
Lặn đứng sau một cái cột cầu, không thở. Cậu đã thấy những viên ngọc như thế. Cậu đã thấy chín viên, nằm trên một tấm lưới sáng, trong một cái hang dưới chân tháp, cạnh một cái lồng sắt có người đàn bà cá.
— Hết chương 11 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe