Chương 29: Con thoi thứ hai
Lặn cầm con thoi bằng cả hai tay.
Nó nặng hơn con thoi của cậu. Xương cá voi mài nhẵn, lưng mòn lõm ở chỗ ngón cái người cầm vẫn tì vào, mòn tới mức sờ vào biết ngay đã có một bàn tay to bè cầm nó hàng ngàn lần. Cậu lật nó lại. Ở mặt bụng, sát lưỡi gà, có một chữ khắc. Nét vụng, sâu, nghiêng về bên phải, như người ít khi cầm bút khắc bằng mũi dao.
Chữ "Vạn".
Dân chài Mũi Rạn khắc họ lên đồ nghề của mình, lên mái chèo, lên phao, lên đáy thúng, để lỡ trôi dạt vào bãi làng khác thì người ta biết đường trả. Cha đã khắc lên con thoi của cha. Cha không khắc lên con thoi của Lặn. Cha nói con thoi của con thì con giữ, không lo trôi.
Lặn lấy con thoi nhỏ của mình ra khỏi cạp quần. Đặt hai con thoi cạnh nhau trên lòng bàn tay. Một to, một nhỏ. Mười lăm khấc trên cả hai. Khấc sâu thứ hai trên cả hai đều lệch sang phải nửa ly.
Cậu không biết mình khóc. Nước biển sâu không cho người ta biết mình khóc.
– Đêm mười bảy tháng Tám, năm người trên bờ gọi là Kỷ Hợi, – Thương Lam bà nói. Giọng bà chậm, tròn từng chữ, như đọc lại một điều đã thuộc lòng. – Cái lưới dưới núi mở chín mắt. Khí của biển bị kéo đi. Con nhỏ của chúng ta, những đứa chưa đủ sức giữ khí trong người, bị kéo theo. Chúng nổi lên. Không lặn xuống được. Như cá bị cái vó nhấc lên.
Bà ngừng lại. Lam Đằng bơi lại gần, đứng sau lưng bà.
– Người của núi biết điều đó, – bà nói tiếp. – Họ đã biết từ lâu. Những đêm lưới mở lớn, họ thả lưới sắt quanh các rạn trong vịnh. Sáng ra họ đi thu. Đêm ấy họ thả lưới quanh rạn mà người trên bờ gọi là Hòn Gù. Mười một đứa nhỏ của chúng ta mắc trong đó. A Ly là một.
– Cha con...
– Cha con tới. – Thương Lam bà nói. – Một mình, một cái thúng, một con dao. Cha con cắt lưới. Cắt từng mắt. A Ly kể với ta, cha con cắt mà không nhìn trời, không nhìn gió, chỉ nhìn tay. Mười một đứa ra hết. A Ly ra cuối cùng, vì nó mắc ở góc sâu nhất. Khi nó lách ra được thì gió tới. – Bà ngừng. – Nó thấy cái thúng lật. Nó bơi lại. Nó nhỏ quá. Nó chỉ nắm được cái này.
Bà chạm một ngón tay bốn đốt lên con thoi lớn trong tay Lặn.
– Nó bám cổ tay cha con bằng một sợi dây. Dây đứt. Con thoi theo A Ly. Cha con theo nước.
Trong hang tối, cụm san hô xanh lam trên vách hắt ánh sáng run run. Lặn nghe tiếng mình thở qua cái vảy, chậm, đục.
– Sao cha con biết? – Cậu hỏi. – Biết đêm ấy có lưới sắt quanh Hòn Gù. Biết có... các người mắc trong đó.
Thương Lam bà quay đầu nhìn Lam Đằng. Lam Đằng nói một tràng tiếng giao, khẽ.
– Lam Đằng hỏi ta có nên kể không, – bà nói. – Ta nói con của Thức thì phải biết. – Bà quay lại. – Mười hai năm trước đêm ấy, một đứa nhỏ của chúng ta mắc lưới cước của một người chài ở Hòn Gù. Lưới thường. Không có phù. Đứa nhỏ ấy là Lam Đằng. Người chài ấy lặn xuống, nín một hơi rất dài, gỡ nó ra, thả nó đi. Không mang lên ghe. Không kể với ai.
Lặn nhìn Lam Đằng. Ông nhìn lại cậu, mắt có mí, lòng đen to. Ba vết sẹo trên ngực ông lấp lánh dưới ánh san hô.
– Sau đó, thỉnh thoảng, – Thương Lam bà nói, – những đêm trăng, Lam Đằng lên rạn. Người chài ấy cũng lên. Họ không nói chuyện được nhiều. Người chài học được vài tiếng của chúng ta. Lam Đằng học được vài tiếng của người. Người chài kể với Lam Đằng về đứa con trai nhỏ của mình, đứa nín thở dai nhất làng. Lam Đằng kể với người chài về những đêm lưới dưới núi mở, những đứa nhỏ nổi lên, những tấm lưới sắt. – Bà ngừng. – Đêm mười sáu tháng Tám năm ấy, Lam Đằng lên rạn, nói với người chài rằng đêm mai lưới sẽ mở lớn. Lớn hơn mọi lần. Và mười một đứa nhỏ đang ở quanh Hòn Gù, vì mẹ của chúng đưa chúng vào vịnh tránh mùa cá mập ngoài khơi.
Lặn nhớ cái đêm ấy. Trăng mười bảy mọc muộn, vàng như lòng trứng vịt. Cha xách đèn dầu ra bãi. Má hỏi đi đâu khuya vậy. Cha nói ra coi lưới, mai nước rong lớn, sợ trôi.
Cha không ra coi lưới. Cha biết. Cha đã biết từ đêm hôm trước.
– Lam Đằng nhận ra con, – Thương Lam bà nói, – ở bãi ròng chiều hôm ấy. Vì con có mặt của Thức. Và vì cái vảy trong tay con là vảy của A Ly. Mỗi đứa nhỏ chỉ cho đi một cái vảy ấm trong đời. Cho người cứu nó.
– A Ly cho con, – Lặn nói. – Năm năm trước. Ở Hòn Gù. Nó mắc lưới của con. Có lưỡi câu xuyên tay.
– Ta biết. – Thương Lam bà gật đầu. – A Ly về kể. Nó nói người tháo lưỡi câu cho nó có mặt của Thức, thở như Thức, cắt lưới như Thức. Nó nói nó đã cho người ấy cái vảy của nó. – Bà dừng lại. Đôi mắt đục nhìn xuống. – Mẹ nó giận nó lắm. Mẹ nó nói vảy ấm thì một đời chỉ cho một lần, sao lại cho một người trên bờ. Rồi mẹ nó đi vào vịnh, tới Hòn Gù, để nhìn mặt người ấy cho biết.
Lặn thấy hơi thở mình dừng lại.
– Mẹ nó không về, – Thương Lam bà nói.
Một tấm lưới sắt khổng lồ trong một cái hang dưới chân núi. Một cái lồng sắt. Một người đàn bà nửa cá gầy trơ xương, hai bàn tay bị lưỡi câu xuyên qua màng xích vào song. Bà nhìn thẳng vào khe nứt nơi cậu đang nằm, như đã biết cậu ở đó từ khi cậu còn bò trong đường hầm. Bà lắc đầu ngăn cậu nhảy xuống. Chử Mặc hỏi "con của nó đâu", và Sủng nói về một con mắc lưới ở Hòn Gù tự thoát được, lưỡi câu bị bẻ ngạnh.
Bà đã đi vào vịnh để nhìn mặt cậu.
– Con thấy bà ấy, – Lặn nói. Giọng cậu vỡ ra trong nước. – Trong hang dưới chân núi. Năm Quý Mão, tháng Ba. Trong lồng sắt. Bà ấy nhìn con. Bà ấy lắc đầu, không cho con nhảy xuống.
Thương Lam bà không nói gì rất lâu. Lam Đằng quay mặt đi.
– Tháng Năm năm ấy, – bà nói, – chúng ta nghe thấy nó chết. Một người của chúng ta chết thì cả Lam Uyên đều nghe. Như một tiếng chuông vỡ.
Đó là đêm cuối tháng Năm, tiếng ngân dưới chân tháp đổi giọng, trong hơn, cao hơn, như ai thay một sợi dây đàn. Lặn nằm nghe, và không ăn được gì suốt hai ngày.
– Bốn mươi năm nay, – Thương Lam bà nói, – người của núi bắt chúng ta. Mỗi viên châu trên cái lưới dưới núi là một người của chúng ta. Mỗi viên châu bán ở chợ đá là một người của chúng ta. Bốn mươi năm, chúng ta không đánh. Chúng ta lùi xuống sâu hơn. Không lên rạn, không lên bờ đổi muối nữa. Rồi họ xuống bắt ở mép sừng. Rồi họ xuống bắt ở Vụng Lặng. – Bà ngẩng lên. – Hơn một năm nay chúng ta đánh. Không phải để lấy đất. Chúng ta không cần đất. Chúng ta đánh để mở lồng.
– Con biết. Con thấy.
– Nhưng con chưa biết điều này. – Bà bơi lại gần cậu, gần tới mức cậu thấy rõ lớp màng trắng trên mắt bà. – Người của núi không cần A Ly để làm châu. Châu của A Ly chưa thành. Mười năm nữa mới thành. Họ cần A Ly sống.
– Để làm gì?
– Để buộc vào mắt thứ chín.
Bà quay lại vách hang, chỉ lên một chỗ. Trên vách đá, dưới ánh san hô xanh lam, có những vết khắc. Lặn không thấy rõ, phải bơi tới gần. Những vết khắc cũ, mòn, phủ rêu biển, nhưng cậu nhận ra hình ngay.
Một tấm lưới. Bốn cần. Chín viên tròn xếp ba vòng con ốc. Và ở viên thứ chín, ngoài cùng, không phải một viên tròn. Một hình người nửa cá, hai tay dang ra, bị buộc vào lưới.
– Chúng ta khắc cái này ba trăm năm trước, – Thương Lam bà nói. – Khi Bích Lư Phái làm. Họ dựng lưới thu triều, đặt tám viên châu, rồi viên thứ chín, họ không đặt châu. Họ đặt một người của chúng ta còn sống. Châu sống buộc vào lưới thì cái lưới đói không có đáy. Một đêm. Đêm rong lớn nhất năm. Họ mở lưới, và cái lưới kéo hết khí của cả vùng biển ấy, kéo không ngừng, kéo cho tới khi biển không còn gì để kéo. – Bà dừng lại. – Rồi biển trả lại. Một lần. Sóng ngược. Cái đảo của họ chìm. Những làng chài ven bờ vùng ấy chìm theo. Vụng đẻ của chúng ta hồi đó cũng chìm theo.
– Thu triều, thì triều thu lại, – Lặn nói.
Thương Lam bà nhìn cậu.
– Con biết câu ấy.
– Con thấy nó khắc trên vách. Ở Cồn Táng Thủy.
Bà gật đầu, chậm.
– Người của núi đang làm lại. Đêm mười bảy tháng Tám năm nay. Ta biết vì bốn mươi năm nay họ chưa bao giờ bắt sống một đứa có lõi châu mà không mổ ngay. Lần này họ bắt sống, đem lên núi. Và vì mỗi tháng, cái lưới dưới núi kéo mạnh hơn tháng trước, như người ta kéo thử dây trước khi kéo thật. – Bà nhìn ra cửa hang, nơi tấm rong nâu sẫm lay nhẹ. – Đêm ấy, nếu cái lưới mở với A Ly buộc ở mắt thứ chín, thì sóng ngược sẽ tới. Nó sẽ tràn qua mũi đất phía đông vịnh trước, vì gió quẩn đổ về đó. Rồi nó dội ra ngoài, qua sừng, tới Vụng Lặng.
Mũi Rạn. Bãi Ngang. Đồi cát. Cái đình làng có cây bàng mới trồng lại. Má. Con Bống.
– Bà muốn con làm gì? – Lặn hỏi.
– Ta không muốn con làm gì. – Thương Lam bà nói. – Ta chỉ nói điều ta biết. Cha con đã chết vì một cái lưới. Ta không đòi con cũng chết vì nó.
Lặn nhìn xuống hai con thoi trong tay mình.
– Có một mắt thứ mười, – cậu nói chậm. – Một cái nút xả. Thắt ngược nó thì cả tấm lưới thắt ngược. Khí trả về biển, lưới sụp vào trong. Nhưng phải thắt đúng lúc nước đứng. Phải có sức Kết Đan. Phải có dây mà khí không đi qua được. – Cậu ngẩng lên. – Và phải có người mở được đường cho các người vào hang, giữ người của núi lại, để con thắt.
Thương Lam bà im lặng. Rồi bà quay sang Lam Đằng, nói một tràng tiếng giao, dài. Lam Đằng đáp lại, ngắn. Bà nói thêm. Lam Đằng cúi đầu.
– Cái hang dưới núi có một lạch ngầm nối ra biển, – bà nói. – Người của núi chắn nó bằng lưới sắt có phù. Chúng ta không qua được. Ai cắt lưới sắt ấy đúng lúc nước đứng, chúng ta vào. Ta vào. – Bà ngừng một nhịp. – Ta đã già. Nhưng ta còn giữ được một cái hang trong một khắc.
Bà bơi vào sâu trong hang, lục trong một cái hốc đá khác, rồi bơi ra. Trên tay bà là một cuộn gì đó trắng bạc, mảnh, mềm, sáng lấp lánh như tấm vải trắng trên cây sào ở bãi ròng.
– Tơ, – bà nói. – Mẹ của A Ly kéo. Chưa dệt xong.
Bà đặt cuộn tơ vào tay Lặn, cạnh hai con thoi.
– Phá được cái lưới ấy, – Thương Lam bà nói, – chúng ta ngưng. Không đánh thành nữa. Không đánh ai nữa. Ta hứa, bằng tên ta, trước mặt Lam Đằng. Và con đưa A Ly về.
— Hết chương 29 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe