Chương 22: Lưới sắt khắc phù
Cái lưỡi câu nằm trong lòng bàn tay Lặn, đen sì, ngạnh còn nguyên, đoạn xích gãy đã rỉ đỏ. Ba năm nay nó nằm dưới đáy tay nải, gói trong một miếng vải dầu. Nó theo cậu từ Mũi Rạn lên tháp, từ tháp xuống Chợ Đá Trôi, từ Chợ Đá Trôi về tháp, giờ ra tới đảo đá giữa biển này.
Cậu chưa bao giờ nhìn kỹ nó. Cậu không muốn.
Tối mười bảy, sau khi đội vá trận ăn xong thùng cơm vắt, cậu ngồi một mình trong góc hầm chứa dây, thắp một ngọn đèn dầu cá nhỏ, và nhìn.
Những đường khắc trên thân lưỡi câu không phải chữ. Lặn biết vậy từ hôm ở rạn Hòn Gù. Giờ cậu đã sống ba năm bên cạnh một trận sư, đã mài mực, chuốt dùi, xâu dây cho lão Khê vẽ trận, cậu biết chúng là gì. Phù khóa khí. Một loại phù đơn giản, khắc thành ba vòng xoắn lồng nhau, đầu vòng trong nối vào đầu ngạnh. Thứ gì có khí mà bị nó xuyên vào thì khí không thoát ra được, tu vi không dùng được. Một con giao mắc phải lưỡi câu này thì chỉ còn là một con cá.
Ở chuôi lưỡi câu, sát chỗ mắt xích, có một dấu nhỏ hơn hạt gạo, phải nghiêng dưới đèn mới thấy. Ba ngấn sóng lồng trong một vòng tròn.
Chiều nay, lúc đi ngang cổng hậu cứ, cậu đã nhìn những tấm lưới sắt đội bắt giao kéo về. Dây sắt khắc phù khóa khí ba vòng xoắn. Ở mỗi góc lưới, chỗ dây được rèn nối, có một cái dấu nhỏ đóng vào sắt nóng.
Ba ngấn sóng trong một vòng tròn.
Lặn biết cái dấu ấy ở đâu khác nữa. Trên tờ giấy vàng dán ở chân cột Một, Chợ Đá Trôi. Bên cạnh triện xanh của Thanh Triều Tông, có một con dấu nhỏ màu đỏ của Ty Thuế Chợ. Ba ngấn sóng trong một vòng tròn.
Cái lưỡi câu xuyên tay con cá bạc ở Hòn Gù năm Nhâm Dần. Hàng trăm cái lưỡi câu gãy dưới đáy rạn. Tấm lưới sắt rách toạc. Những tấm lưới sắt hôm nay ở miệng cống hậu cứ. Tất cả ra từ một lò rèn, đóng một con dấu. Không phải đồ của Hội Đồng. Không phải đồ của Thanh Triều Tông. Đồ của Ty Thuế, của người thu thuế chợ, của người bán châu dưới gầm cầu.
Cậu gói cái lưỡi câu vào miếng vải dầu, nhét lại xuống đáy tay nải.
Cậu không có ai để đưa nó cho xem. Một cái dấu nhỏ hơn hạt gạo, trên một cái lưỡi câu một thằng chài nhặt dưới đáy rạn. Sủng chỉ cần cười.
– Thằng đếm. – Bà Ngát ló đầu vào cửa hầm. – Cống thứ hai hậu cứ bung song. Bên đó xin người vá. Bây đi với thằng Thiếp với con Hến. Đêm nay phải xong, mai nước lên là chúng nó tới lại.
Cống thứ hai nằm ở góc tây nam tường hậu cứ.
Đội bắt giao canh cổng hậu cứ không cho người vá trận đi qua bên trong. Ba người phải đi vòng ra ngoài, men theo chân tường thành phía ngoài, lội qua rạn hàu đang ròng dần, tới miệng cống từ phía biển. Thằng Thiếp là tán tu mười chín tuổi, nói lắp. Con Hến là con gái một ông thợ rèn ở Chợ Đá Trôi, tay to hơn tay Lặn. Cả hai đều chưa từng vá song cống.
Song sắt cống thứ hai bị giật bung ở nửa trên. Bốn thanh sắt cong vẹo như cành tre bị bão bẻ, chốt đá ở hai đầu vỡ toác. Phù khắc trên song đã tắt ở chỗ cong. Đứng ngoài miệng cống nhìn vào, Lặn thấy được bên trong một khoảng nước rộng chừng cái ao, đen và lặng, nằm sát chân tường. Vũng nhốt. Nước lên thì nó đầy, nước ròng thì nó cạn còn ngang gối.
Giữa vũng nhốt, buộc vào một cái cọc sắt, là tấm lưới sắt thứ hai của đêm qua. Vẫn chưa ai kéo nó vào lồng.
Sáu cái bóng nhỏ nằm im trong đó.
Lặn đứng ở miệng cống, tay cầm cuộn dây đồng, không nhúc nhích.
– Sao chưa đem vào lồng? – Cậu hỏi, không hỏi ai.
– Lồng... lồng đầy, – thằng Thiếp nói. – Tôi... tôi nghe đội bên kia nói. Mười một cái lồng đầy hết. Phải... phải đợi ông Phí phân.
– Ông Phí đâu?
– Trên lầu đốc thành. Ăn mừng.
Một bóng người trên mặt tường hậu cứ phía trên đầu họ. Lặn ngẩng lên. Bền đứng đó, cầm đèn lồng vỏ ốc, ca canh đêm. Nó nhìn xuống ba người đội vá trận, nhìn tới Lặn thì dừng lại.
– Vạn sư đệ, – nó gọi xuống. Giọng nó to, bình thường, như nói với người lạ. – Ông Phí dặn sáng mai mới phân. Đêm nay để nguyên trong lưới. Lưới buộc cọc, nút xích, đừng đụng vào.
– Dạ biết.
Bền đi tiếp. Được mươi bước, nó dừng, đứng quay lưng về phía cống, nhìn ra biển. Nó đứng đó rất lâu. Rồi nó nói, không to, không nhỏ, như nói với gió:
– Đêm nay tao canh ở đầu tây. Đầu đông không có ai.
Rồi nó đi khuất.
Thằng Thiếp với con Hến nhìn nhau. Lặn cúi xuống cuộn dây.
Ba người vá cống tới đầu giờ Hợi. Nước đã bắt đầu lên trở lại, tràn qua rạn hàu, ngập tới đầu gối, rồi tới đùi. Lặn chỉ cho hai người kia cách tháo chốt vỡ, cách uốn thẳng song sắt bằng cái đòn bẩy gỗ, cách chêm chốt đá mới vào. Con Hến uốn sắt giỏi hơn cả cậu. Thằng Thiếp thì đục chốt như đục gỗ, cẩn thận tới mức chậm.
Phần cuối cùng là tấm lưới đồng phủ ngoài song, cái thứ nối phù khóa khí trên song với Hộ Thành Trận trên tường. Thiếu nó, song chỉ là song sắt thường, giao lớn giật một cái là bung. Có nó, song sáng đỏ khi có giao chạm vào, như đêm qua.
– Để tôi thắt, – Lặn nói. – Hai người lên trước, báo bà Ngát là xong, tôi thắt nốt rồi lên.
Hai người kia không cãi. Nước đã lên tới thắt lưng, lạnh buốt. Thằng Thiếp với con Hến lội về phía bậc đá chân thành, bóng họ mờ dần trong đêm. Trăng mười bảy còn thấp, khuất sau tường thành.
Lặn còn lại một mình ở miệng cống.
Cậu thắt tấm lưới đồng vào song. Mười hai nút ở viền. Mười một nút đầu, cậu thắt nút chân chó kép, chắc như mắt thứ hai mươi tư. Nút thứ mười hai, ở góc dưới bên trái, sát đáy cống, cậu thắt nút neo ngược.
Cha dạy cậu nút ấy để buộc mỏ neo xuống đáy rạn. Kéo từ phía mỏ neo, nghĩa là từ phía ngoài, càng kéo càng chặt. Kéo từ phía đầu dây kia, chỉ một cái, nó tuột ra như chưa từng buộc. Ai đứng ngoài nhìn vào, ai kéo thử từ phía biển, đều thấy góc lưới chắc như mười một góc kia.
Rồi cậu thắt thêm một đoạn dây cước mảnh vào đầu tuột của nút, kéo đoạn dây ấy luồn qua song, chìm xuống đáy nước bên trong vũng nhốt.
Cậu đứng thẳng dậy. Nước đã tới ngực. Cậu nhìn qua song vào vũng nhốt. Cái cọc sắt. Tấm lưới sắt. Sáu cái bóng nhỏ.
Miệng tấm lưới sắt được túm lại bằng một sợi xích nhỏ, quấn ba vòng quanh cọc, khóa bằng một cái chốt sắt. Đội bắt giao không thắt nút. Chúng khóa.
Lặn không có chìa. Lặn cũng không chui qua song được. Cậu đứng ngoài, cách tấm lưới chừng ba sải.
Cậu nhìn cái chốt sắt rất lâu. Rồi cậu nhìn chỗ sợi xích quấn quanh cọc. Ba vòng. Vòng ngoài cùng không quấn chặt vào cọc mà quấn lên chính nó, chồng lên vòng thứ hai. Người quấn vội. Người quấn đã mệt sau một đêm đánh nhau.
Một sợi xích quấn chồng lên nhau mà kéo đúng chiều thì vòng trên trượt khỏi vòng dưới. Như sợi giềng quấn vội lên cọc ghe, gặp sóng lớn là tuột.
Cậu tháo đoạn dây cước dài nhất trong cuộn, thắt một đầu thành thòng lọng nhỏ. Cậu thò cánh tay qua khe song, cả vai ép vào sắt lạnh, quăng. Thòng lọng rơi trúng cái cọc, trượt xuống, mắc vào vòng xích trên cùng. Lần thứ nhất trượt ra. Lần thứ hai cũng trượt. Lần thứ ba, mắc.
Cậu kéo. Nhẹ. Kéo về phía ngược chiều quấn.
Vòng xích trên cùng trượt khỏi vòng thứ hai. Không có tiếng gì, chỉ một tiếng lách cách rất khẽ dưới nước. Miệng tấm lưới sắt hé ra một chút. Không nhiều. Chỉ một khe nhỏ, vừa một bàn tay bốn ngón.
Cậu giật thòng lọng về, cuộn lại, nhét vào túi.
Bên trong vũng nhốt, một cái bóng nhỏ cựa mình.
– Đi đi, – Lặn nói, nhỏ, qua song sắt. Cậu không biết chúng có hiểu không. – Góc dưới bên trái. Kéo sợi dây.
– Ngươi làm gì đó?
Lặn quay phắt lại.
Trên một mỏm đá nhô ra từ chân tường thành, cách miệng cống chừng mười sải, có một người đang đứng. Áo trắng viền lam. Đứng trên mỏm đá cao, không xuống tới nước. Không cầm đèn.
Tạ Minh Quyền.
Lặn không trả lời. Cậu không biết Quyền đã đứng đó từ lúc nào. Cậu không biết Quyền đã thấy những gì.
Quyền nhìn cậu. Rồi nhìn vào trong song sắt, nhìn xuống vũng nhốt, nhìn tấm lưới sắt buộc cọc. Rồi nhìn cậu lần nữa.
Hai người đứng như vậy rất lâu. Nước vẫn lên. Đã tới vai Lặn.
Quyền quay người đi. Không nói gì. Bước chân nhẹ, đều, đi ngược lên những bậc đá ở chân thành, khuất vào bóng tối giữa hai bức tường.
Lặn lội về đội vá trận khi nước đã ngập tới cằm. Cậu leo lên mặt tường đông, ngồi vào chỗ của mình ở mắt thứ hai mươi tư, quay mặt về phía hậu cứ, và đếm.
Giữa đêm, nước đứng. Cậu nghe thấy, qua tiếng sóng, một tiếng rít khẽ như gió lùa qua khe vỏ ốc. Chỉ một tiếng. Rồi im.
Rồi nước bắt đầu ròng.
Lặn biết ngay mình đã tính sai. Cậu tính nút, cậu không tính dòng. Lúc nước ròng, nước trong vũng nhốt tháo ra qua bốn cái cống, chảy từ trong ra ngoài, mạnh như thác. Cái góc lưới đồng vừa tuột nút sẽ không nằm yên chờ những con sau. Nó sẽ bị dòng nước cuốn ra, quật qua quật lại như một cái phướn trước gió, rồi quấn ngược lên song sắt, quấn chặt như sợi giềng quấn quanh cọc ghe gặp sóng. Con đầu tiên kéo sợi dây và lách qua được lúc nước còn đứng. Những con sau chưa kịp. Chúng còn đang chen nhau ra khỏi cái khe hẹp ở miệng lưới sắt.
Cậu nhổm dậy. Rồi cậu ngồi xuống. Bây giờ chạy ra đó là chạy vào mắt của cả đội bắt giao.
Cậu ngồi trên tường tới sáng, không nói với ai một lời.
Sáng mười tám, Phí Hữu Sủng xuống vũng nhốt lúc nước ròng kiệt, có bốn người đội bắt giao đi theo. Ông ta cười như mọi khi, áo xám, tay cầm cái đèn lồng vỏ ốc dù trời đã sáng. Ông ta đứng trên bờ vũng nhốt, nhìn người ta kéo tấm lưới sắt lên khỏi nước.
Sợi xích vẫn quấn quanh cọc. Hai vòng. Chốt sắt vẫn khóa.
Trong lưới có năm cái bóng nhỏ.
Sủng đếm một lần. Đếm lần nữa. Rồi ông ta cúi xuống, nhìn sợi xích, nhìn cái cọc, nhìn cái miệng lưới hé ra một khe vừa một bàn tay. Rồi ông ta ngẩng lên nhìn song cống, nơi một góc lưới đồng đang quấn ngược quanh thanh sắt dưới cùng như một dải rong. Ông ta thôi cười.
– Đêm qua, – ông ta nói, giọng nhỏ, như hỏi thăm, – đội vá trận nào vá cống thứ hai?
— Hết chương 22 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe