Chương 20: Thành Lũy Hàu
– Bây tới đây làm chi? Vá trận hay đếm nước?
Người hỏi là một bà già thấp đậm, tóc cắt ngắn ngang tai như đàn ông, ngồi xổm trên mặt tường thành, hai tay đang thắt một sợi dây đồng vào một cái chốt đá. Bà không ngẩng lên. Gió từ ngoài khơi thổi tạt, mang theo bụi nước mặn chát, ướt cả vai áo Lặn.
– Dạ, cả hai.
– Cả hai. – Bà già khịt mũi. – Tới đây ai cũng nói cả hai. Rồi tới đêm rong đầu tiên thì đứa thì đếm nước, đứa thì đếm xác, không đứa nào vá. Tên gì?
– Vạn Văn Lặn. Ty Thu Triều.
Bà ngẩng lên. Mặt bà đen như đồng hun, nếp nhăn sâu như vết dao, một bên lông mày bị sẹo cắt đôi. Bà nhìn cậu từ đầu tới chân, dừng ở hai bàn tay.
– Lã Thị Ngát. Đội vá trận phía đông. – Bà hất hàm về phía cuối tường. – Có ông già què ngồi đằng kia. Đừng lại gần ổng. Ổng là tù.
Thành Lũy Hàu không giống bất cứ thứ gì Lặn từng thấy.
Nó nằm trên một cái rạn hàu rộng chừng ba lần xóm Bãi Ngang, ngay sau lưng Ghềnh Sừng. Ghềnh Sừng là một dải đá ngầm đen cong vút như cái sừng trâu, dài hàng dặm, chắn ngang ngoài cửa vịnh Rạng. Bên trong sừng là vịnh, nước xanh. Bên ngoài sừng, nước đột ngột thẫm lại như có ai đổ mực, sâu không thấy đáy. Người ta gọi chỗ thẫm ấy là mép Lam Uyên.
Tường thành xây bằng đá ong và vỏ hàu nung vôi, cao bằng ba người, uốn theo hình móng ngựa, lưng quay ra biển sâu, miệng mở vào phía vịnh. Dọc mặt tường phía ngoài cắm hàng trăm cái chốt đá, chốt nào cũng nối với nhau bằng dây đồng, dây cước khắc phù, đan thành một tấm lưới phủ kín mặt tường. Hộ Thành Trận. Lúc trận chạy, cả tấm lưới phát sáng mờ mờ xanh nhạt, giống tấm lưới trong Hang Kình nhưng thưa hơn, thô hơn, và không có châu.
Lúc nước ròng, rạn hàu trồi lên quanh chân thành, sắc như dao cạo, trắng xóa vỏ hàu chết. Lúc nước lên, cả rạn chìm, nước vỗ lên tận chân tường, và Ghềnh Sừng ngoài kia cũng chìm, chỉ còn một vệt sóng trắng chạy dài như vết roi trên mặt biển.
Ghe chở người của Thanh Triều Tông cập thành chiều mùng bốn tháng Hai. Một trăm hai mươi người lên bậc đá, lần lượt bị chia đi. Đệ tử nội môn theo Quyền về lầu phía tây. Đội tuần biển cũ và đội bắt giao theo Phí Hữu Sủng về hậu cứ, khu nằm sâu trong lòng móng ngựa, có tường riêng, có cổng riêng, có người canh. Bền đi trong hàng ấy. Lúc ngang qua Lặn, nó không quay lại, chỉ đưa một tay ra sau lưng, giơ ngón cái lên.
Lặn được chỉ lên tường đông.
Đêm đầu tiên ở thành, cậu không ngủ. Cậu ngồi trên mặt tường, nghe nước. Nước ở đây khác hẳn Mỏm Đá Kình. Nó không vào thẳng từ một cửa, mà tràn qua Ghềnh Sừng từ ba phía, chậm ở chỗ đá cao, nhanh ở những khe sừng thấp, gặp nhau sau lưng thành rồi mới dồn vào vịnh. Tới khuya cậu đã biết vì sao người ta đặt thành ở đây. Đây là chỗ nước từ biển sâu tràn vào nhanh nhất, lúc nước lớn nhất.
Cậu bấm đốt tay, so với Mỏm Đá Kình. Muộn hơn chừng nửa canh giờ.
Sáng hôm sau, cậu tới chỗ bà Ngát.
– Ca trực ở đây đổi theo gì?
– Theo chuông. – Bà Ngát đang ăn cơm vắt với muối mè, ngồi trên một cái thùng gỗ. – Chuông đánh thì đổi.
– Ai đánh chuông?
– Thằng giữ chuông, nó coi hương. Hai cây hương một ca.
– Giao đánh lúc nào?
Bà Ngát ngừng nhai.
– Lúc nào nó muốn.
– Dạ không. – Lặn nói. – Nó không đánh lúc nào nó muốn. Nó đánh lúc nước lên cao nhất, vì lúc ấy rạn hàu ngập sâu nhất, nó bơi qua được mà không bị vỏ hàu cứa. Ca trực mà đổi theo hương thì có đêm đổi ca đúng lúc nước đứng.
Bà Ngát nhìn cậu một lúc lâu. Rồi bà chỉ vào vách đá sau lưng mình, chỗ có một mảng tường nhẵn bị khắc đầy những vạch ngắn.
– Đó là những đêm nó đánh, – bà nói. – Từ tháng Chạp năm ngoái tới giờ. Tao khắc. Bây coi đi.
Lặn ngồi xuống trước mảng tường. Mỗi vạch là một đêm. Cạnh mỗi vạch có một chấm nhỏ là ngày tháng, viết bằng thứ chữ quê mùa, nét to.
Mười bảy tháng Chạp. Mồng ba tháng Giêng. Mười sáu tháng Giêng. Mồng hai tháng Hai năm nay, hai ngày trước khi cậu tới.
Không có đêm nào ngoài những đêm nước rong. Không có đêm nào mà Lặn không nhớ ra, trong đầu, một đêm tiếng ngân dài dưới chân tháp Mỏm Đá Kình. Cậu không cần vách tầng ba nữa. Cậu đã tự đếm đốm đỏ trên mặt gương suốt năm tháng ấy.
Giao tộc không đánh vào những đêm nước rong. Giao tộc đánh vào những đêm cái lưới dưới chân tháp mở.
– Sao? – Bà Ngát hỏi.
– Dạ, nước rong, – Lặn nói. Chỉ vậy.
Bà Ngát nghe xong, đi gặp thằng giữ chuông. Từ ngày mùng sáu tháng Hai, ca trực tường đông đổi theo giờ Lặn báo. Không ai cảm ơn cậu. Nhưng bà Ngát cho cậu ăn chung thùng cơm vắt muối mè, và gọi cậu là "thằng đếm".
Khu vá trận phía đông nằm sát chân tường, là một dãy hầm đá thấp lợp lá dừa, trong hầm chất đầy cuộn dây đồng, chốt đá, đục, dùi sừng. Ông già què ngồi ở hầm cuối cùng.
Lặn tới đó vào chiều mùng sáu, khi nước bắt đầu ròng.
Cậu đã biết lão ở đây. Cậu đã đọc dòng chữ trên tờ giấy vàng. Nhưng khi đứng ở cửa hầm nhìn vào, cậu vẫn không đi tiếp được.
Lão Khê ngồi trên một tấm phản tre, lưng dựa vách, đang cầm một cái chốt đá xoay xoay dưới ánh sáng lọt qua cửa. Khúc phi lao duỗi ra trước mặt, đầu dưới đã toét, sợi dây gai quấn quanh mòn tới mức lộ gỗ trắng. Chân phải lão có một cái vòng sắt quấn quanh cổ chân, nối với một sợi xích dài chừng mười sải, đầu kia khóa vào một cái cột đá giữa hầm. Áo lam bạc màu của tông đã bị lột đi, giờ lão mặc áo nâu tù, cổ áo khâu một miếng vải đỏ.
Lão gầy đi. Má hóp lại. Môi không còn đỏ quạch nữa, môi tái như vỏ sò.
Lão không có trầu.
– Đứng đó làm gì? – Lão nói, không ngẩng lên. – Đội vá trận thì vào mà lấy dây. Dây đồng bên trái, dây cước bên phải.
Giọng lão khàn như cũ. Một người lính canh của Hội Đồng ngồi ngủ gật ở đầu kia hầm, ngay chỗ xích khóa vào cột.
Lặn bước vào, cầm một cuộn dây đồng. Rồi cậu móc trong tay nải ra một gói lá chuối nhỏ, đặt lên tấm phản tre, sát chân lão.
Lão Khê nhìn gói lá. Lão không mở. Lão đã ngửi thấy mùi.
Trầu không và cau khô. Lặn đã mua ở chợ dưới chân núi trước ngày đi, mua bằng tiền tháng đầu tiên lĩnh ở Ty Thu Triều. Cậu không biết vì sao mình mua. Cậu chỉ biết ở ngoài đảo đá không có cây trầu.
Lão Khê cầm gói lá lên, mở ra, lấy một lá trầu, quệt vôi, cuốn lại, bỏ vào miệng. Lão nhai chậm, mắt nhắm lại. Rồi lão nhổ ra cửa hầm một bãi đỏ, lâu lắm rồi mới đỏ như vậy.
– Thằng đệ tử Ty Thu Triều mới tới, – lão nói to, cho người lính canh nghe nếu hắn còn thức. – Biết tính nước thì báo tao. Đêm nay nước đứng giờ nào?
– Dạ, đầu giờ Sửu.
– Ở đâu?
– Ở chân thành. Ngoài Ghềnh Sừng sớm hơn chừng nửa khắc.
Lão Khê mở mắt. Lão nhìn cậu. Đôi mắt ấy vẫn không già.
– Hai ngày, – lão nói nhỏ, rất nhỏ. – Mày tính được chênh lệch ngoài sừng trong hai ngày.
– Dạ, một ngày rưỡi.
Lão nhai trầu. Rồi lão cúi xuống cái chốt đá trong tay.
– Đi lấy dây đi. Đêm mười sáu nó tới. Bà Ngát cần dây.
Từ hôm ấy, chiều nào lúc nước ròng, Lặn cũng tới hầm cuối lấy dây. Mỗi lần cậu để lại một gói lá chuối. Người lính canh của Hội Đồng ngủ gật nhiều hơn thức, và khi thức thì hắn chỉ thấy một thằng đệ tử trẻ lấy dây đồng, một ông tù già nhai trầu, không ai nói với ai quá ba câu.
Nhưng ba câu là đủ.
Câu thứ nhất, chiều mùng bảy: "Lưới ngoài tường thưa. Mắt nào yếu?" Lặn đã nhìn suốt đêm, đã chỉ cho lão. Mắt thứ hai mươi tư tính từ góc đông bắc, chỗ dây đồng đã bị muối ăn mòn mà không ai thay. Lão gật.
Câu thứ hai, chiều mùng chín: "Hậu cứ có bao nhiêu lồng?" Lặn không biết. Lặn chưa được vào hậu cứ. Lão nói: "Đếm đi. Đếm bằng tai."
Câu thứ ba, chiều mười hai, khi người lính canh đi tiểu: "Cái chân của tao đâu?"
– Con để lại trên tháp, – Lặn nói. – Dưới chõng. Bọc trong chiếu cói. Con dặn người thay con giữ tháp là đồ cũ, lão què bỏ lại.
– Người thay mày là ai?
– Một sư huynh ngoại môn, tầng sáu. Không biết tính nước.
Lão Khê khẽ cười, cái cười khô như vỏ ốc.
– Ừ. Chúng nó không cần. – Lão nhổ bã trầu. – Mày giữ được mạng mày tới lúc về lấy lại thì được.
Người lính canh quay lại. Lão Khê cúi xuống cái chốt đá.
Đêm ấy, Lặn đếm bằng tai.
Cậu ngồi trên mặt tường đông, chỗ gần hậu cứ nhất, quay lưng ra biển, nhắm mắt. Hậu cứ nằm sau một bức tường riêng cao ngang tường thành, trong đó là bóng tối, đèn rất ít. Nhưng nước thì không cần đèn. Lúc nước lên, nước tràn qua rạn hàu vào trong lòng móng ngựa, chảy qua những cái cống dưới chân tường hậu cứ, và trong đó nó vỗ vào thứ gì đó. Không phải vỗ vào đá. Tiếng nước vỗ vào song sắt khác tiếng nước vỗ vào đá, trong hơn, ngân hơn, như ai gõ vào một hàng chuông nhỏ.
Cậu đếm được mười một lần ngân. Mười một cái lồng.
Và giữa những tiếng nước, có những tiếng khác. Rất nhỏ. Một thứ tiếng rít khẽ như gió lùa qua khe vỏ ốc.
Lặn đã nghe tiếng ấy một lần. Trong cái vũng nước giữa hai tảng đá Hòn Gù, trước khi một đứa con gái đuôi cá mở miệng nói chữ "đừng".
Cái túi vải màu chàm trên cổ cậu lạnh đi. Không phải lạnh như những đêm trận mở. Lạnh từ từ, như hơi nước mát của một buổi chiều ròng.
Cậu mở mắt. Trên tường hậu cứ, một người lính của đội bắt giao đi tuần, cầm ngọn đèn lồng vỏ ốc, đi qua rồi đi lại. Lặn nhìn theo ngọn đèn ấy, rồi nhìn ra biển, ra phía Ghềnh Sừng đang chìm dưới nước lên, chỉ còn vệt sóng trắng.
Ở bên kia vệt sóng, mép Lam Uyên đen như mực.
Cậu bấm đốt tay. Mười hai. Bốn ngày nữa là mười sáu. Đêm mười sáu tháng Hai, ở Mỏm Đá Kình, nước đứng đầu giờ Hợi. Ở chân Thành Lũy Hàu, giữa giờ Hợi.
Năm tháng trời cậu ngồi đếm đốm đỏ trên mặt gương. Mấy tháng nay, đêm rong nào nó cũng mở. Đêm mười sáu, ở dưới chân một ngọn tháp cách đây ba ngày ghe, một ông già tóc trắng mặt hồng sẽ đứng bên mép hồ, không cần ai báo giờ, và giơ hai tay lên.
Và ở đây, giữa giờ Hợi, từ dưới mép Lam Uyên, chúng sẽ tới.
— Hết chương 20 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe