Chương 9: Tấm ảnh khai trương năm 2004
Cầu thang lên phòng gác nhà số sáu mươi mốt hẹp tới mức Thạch phải đi nghiêng người, và mỗi bậc gỗ kêu một tiếng khác nhau, như một cây đàn bị lên dây sai.
– Lên đi. – Giọng ông Bảy vọng xuống. – Bậc thứ bảy mục, bước qua.
Thạch bước qua bậc thứ bảy.
Đó là trưa thứ Năm, ba mươi tháng Tư. Cả thành phố nghỉ lễ. Quán cơm đóng cửa hai ngày, Hảo dẫn Khế về Mỏ Cày thăm bà ngoại, Nguyên về phòng trọ ngủ bù, Tráng đi với chị Thắm lên chùa. Hẻm Cây Điệp vắng tới mức nghe được tiếng một con thằn lằn chặc lưỡi trên tường.
Sáng nay Thạch không nấu cá kho cho bà Năm. Bà nhắn qua đứa cháu là bà đi ăn giỗ ở Gò Công, thứ Năm tuần sau hẵng nấu. Anh ngồi một mình trong quán tới mười giờ, rồi anh đứng dậy, mua hai ly cà phê đen không đường ở quán bà Tám Ròm, đi vào khúc quẹo thứ ba, gõ cửa nhà số sáu mươi mốt.
Phòng gác của ông Bảy rộng chừng mười mét vuông, trần thấp, mái tôn. Một cái giường sắt, một cái bàn gỗ, một cái tủ quần áo bằng ván ép. Không có tivi. Trên tường treo một cái lịch bloc đã xé tới ngày hôm nay, và một cái móc sắt treo ba con dao bếp trong bao da cũ, bao nào cũng bóng lên vì tay người cầm.
Ông Bảy ngồi trên giường. Thạch đặt ly cà phê lên bàn.
– Ông đâu có uống cà phê đen. – Ông nói, nhìn ly cà phê. – Tao uống cà phê sữa.
– Dạ, ly đó con mua cho con. – Thạch đẩy ly kia tới. – Ly này cà phê sữa.
Ông Bảy nhìn anh một lúc. Lần đầu tiên, khóe miệng ông nhích lên một chút. Không hẳn là cười.
– Ngồi.
Thạch ngồi xuống cái ghế đẩu duy nhất.
– Con muốn hỏi ông về cái lò than.
– Lò than nhà mày.
– Dạ. Chị Thùy bên phường nói bà nội con nướng tỏi bằng than để pha nước mắm. Con chưa từng nhóm cái lò đó. Con không biết bà dùng nó để làm gì nữa.
Ông Bảy cầm ly cà phê sữa, uống một ngụm, đặt xuống.
– Mày hỏi tao, tao không nói được.
– Sao vậy ông?
– Vì không phải chuyện của tao. – Ông nói, giọng đều. – Bếp của bà mày. Món của bà mày. Tao nói được cái sai. Cái đúng thì tao không có quyền.
Thạch ngồi im. Câu đó giống câu bà Năm nói tới mức anh nghe mà lạnh gáy. "Tui không còn quyền đem ra cho ai nữa."
Anh không định kể. Anh đã nghĩ suốt đêm qua có nên kể cho ai không. Nhưng ông Bảy là người đã chỉ cho anh cái gioăng tủ lạnh và câu "đừng giải thích", và ông là người duy nhất trong hẻm này nhìn anh đi đứng là biết anh từng đứng bếp nhà hàng.
– Ông Bảy. – Anh nói. – Tối thứ Ba có một con bé phụ bếp ở nhà hàng cũ của con tới đây.
Anh kể. Bữa tiệc, chén xốt, lá ngò chữ V, vòng dầu óng. Buổi họp kỷ luật, ba trăm tám mươi sáu triệu. Lá đơn phản ánh có cụm "cá ươn bỏ đá u-rê". Chiếc xe tải màu xanh lá đổ thùng nhựa trắng ở cổng sau lúc gần nửa đêm. Ngà và câu nói cuối cùng: hai giờ sáng, anh Long kêu em đổ cái thùng xốt trắng xuống cống.
Ông Bảy nghe mà không cắt lời. Ông ngồi thẳng lưng trên mép giường, hai tay đặt trên đầu gối. Khi Thạch nói tới tên Long lần thứ nhất, ông không động đậy. Khi Thạch nói tới câu "cá ươn bỏ đá u-rê", bàn tay phải của ông siết lại trên đầu gối.
– Mày nói thằng Long. – Ông nói, khi Thạch đã kể xong. – Diệp Khánh Long. Cao. Tóc húi cua. Ba má người Nam Định.
Thạch nhìn ông.
– Dạ. Sao ông biết?
Ông Bảy không trả lời. Ông đứng dậy, khớp gối kêu răng rắc như hôm trong bếp. Ông mở cánh tủ quần áo bằng ván ép, cúi xuống, lôi ra từ ngăn dưới cùng một cái hộp thiếc đựng bánh quy, loại hộp tròn có hình mấy bông hoa đã tróc sơn. Ông mở nắp. Bên trong là mấy xấp giấy tờ cột bằng dây thun, một cái đồng hồ đeo tay đã ngừng chạy, một cái huy hiệu nhỏ hình chiếc mũ đầu bếp. Và mấy tấm ảnh.
Ông lật qua mấy tấm ảnh, rút ra một tấm, đưa cho Thạch.
Tấm ảnh màu, khổ to bằng bàn tay, đã ngả vàng, góc trên bên phải bị gấp một nếp. Ảnh chụp trong một gian bếp rộng, tường lát gạch men trắng, những dãy nồi inox mới tinh xếp trên kệ. Có khoảng mười mấy người đứng thành hai hàng. Hàng sau là đám phụ bếp trẻ mặc áo trắng. Hàng trước có bốn người.
Ở giữa là một người đàn ông chừng năm mươi, mặc áo sơ mi trắng, cười hiền, tay đặt lên vai người bên cạnh. Thạch nhận ra ông ngay: ông Hà Thế Phiệt, người sáng lập, người có bức chân dung áo dài the treo trong phòng họp tầng hai.
Bên trái ông Phiệt là một người đàn ông chừng năm mươi, gầy, đầu cạo trọc, mặc áo bếp trắng có hàng nút đôi. Ông Bảy Thức. Trẻ hơn bây giờ hai mươi hai tuổi, nhưng không lẫn vào đâu được: vẫn cái cổ áo cài kín, vẫn cái nhìn thẳng vào ống kính như nhìn một nồi nước sắp sôi.
Ở hàng sau, sát mép ảnh, một thanh niên cao, tóc húi cua, đứng nghiêng người như sợ bị cắt ra khỏi khung. Long. Hai mươi lăm tuổi.
Và bên phải ông Phiệt, đứng hơi lùi về sau nửa bước, là một bà cụ người nhỏ thó, mặc áo bà ba màu tím than, tóc búi, cười hở cái răng khểnh. Trên hai tay bà, đỡ trước ngực như đỡ một đứa trẻ, là một cái tộ đất màu nâu đen. Quanh miệng tộ, một cái đai đồng sáng loáng dưới ánh đèn flash.
Thạch không thở.
Bà nội anh. Cái tộ của bà. Trong bếp Mộc Lan Đài.
Anh lật mặt sau tấm ảnh. Có một dòng chữ viết bằng bút bi, nét chữ nghiêng, đã nhòe: "Khai trương Mộc Lan Đài. 9/2004."
– Năm hai ngàn lẻ bốn, – ông Bảy nói, ngồi xuống lại mép giường, – ông Phiệt mở nhà hàng. Tao làm bếp trưởng. Thằng Long là phụ bếp của tao. Nó mới hai lăm tuổi, ở dưới quê lên, tay chân lóng ngóng.
– Còn bà nội con…
– Bà mày vô bếp Mộc Lan Đài ba tháng. Từ tháng Sáu tới tháng Chín năm đó. Ngày nào cũng tới lúc năm giờ sáng, về lúc hai giờ chiều cho kịp bán cơm buổi chiều ở đây. – Ông nhìn ra cái cửa sổ nhỏ, nơi có một mảnh trời trắng nắng. – Bà dạy bếp của tao một món. Một món duy nhất. Cá kho.
Thạch nhìn xuống tấm ảnh. Cái tộ trên tay bà. Đai đồng. Hai cái đinh tán nhỏ.
Cá kho tộ Mộc Lan. Món làm nên tên nhà hàng hai mươi hai năm. Món khách nước ngoài tới Sài Gòn được dẫn tới ăn. Món anh nấu sáu năm, hai trăm tộ mỗi ngày, gõ đũa ba cái lên từng cái đai đồng giả do xưởng gốm làm sẵn.
Món của bà.
– Cái đai đồng giả ở nhà hàng… – Anh nói, giọng khàn.
– Ông Phiệt cho xưởng gốm làm theo cái tộ của bà mày. – Ông Bảy nói. – Bà mày không chịu để lại cái tộ thật. Bà nói tộ đó là tộ nhà, không đem đi đâu hết.
Thạch đặt tấm ảnh xuống bàn. Tay anh run. Anh cầm ly cà phê đen lên uống một ngụm, quên là nó không đường, đắng tới tê lưỡi.
Anh nhớ ra một chuyện. Một đêm, hồi anh chừng mười một, mười hai tuổi, ba anh về nhà sau một chuyến xe dài, uống rượu với mấy ông tài xế ở đầu hẻm, say. Ba ngồi ở bậc thềm, chửi đổng vào bóng tối. Anh nhớ được một câu, vì nó lạ: "Thằng cha chủ nhà hàng đó cướp món của má tao, làm giàu trên lưng má tao." Bà nội đi ra, kéo ba vào nhà, đóng cửa. Sáng hôm sau không ai nhắc lại. Anh lớn lên, quên mất câu ấy. Ba không bao giờ nói tên nhà hàng nào.
– Ông Bảy. – Anh nói. – Ba con nói hồi đó có một ông chủ nhà hàng cướp món của bà. Là ông Phiệt hả ông?
Ông Bảy nhìn anh. Cái nhìn chậm, rất lâu.
– Ông Phiệt không ăn cắp. – Ông nói. – Bà Hai bán.
– Bán?
– Bán.
Căn gác im lặng. Ngoài kia, ai đó mở loa một bài hát mừng ngày lễ, tiếng nhạc lọt qua khe mái tôn, rè rè.
– Bà nội con bán món cá kho cho ông Phiệt. – Thạch nói chậm, như đọc một câu bằng thứ tiếng mình mới học. – Bán bao nhiêu?
– Cái đó hỏi ba mày.
– Ông không biết hả ông?
– Tao biết là bà bán. – Ông Bảy nói. – Tao không biết bà bán bao nhiêu, tao không biết sao bà bán. Bà không nói, tao không hỏi. Năm đó bà sáu mươi ba tuổi, bà tới bếp tao lúc năm giờ sáng, đứng bên lò than dạy thằng Long hun lá chuối, mắt sưng như người khóc cả đêm. Tao không hỏi.
Thạch nghe hai chữ "lá chuối". Ông Bảy cũng nghe mình vừa nói gì. Ông ngừng lại, mím môi.
– Tao nói dư rồi. – Ông lẩm bẩm. – Quên đi.
– Ông Bảy…
– Quên đi. – Ông nói, lần này cứng hơn. – Món của bà mày. Tao không có quyền.
Ông đứng dậy, cầm tấm ảnh lên, nhìn nó một lúc. Rồi ông không cất nó vào hộp. Ông đưa nó lại cho Thạch.
– Mày giữ đi. Tao có cái khác.
– Ông còn ở Mộc Lan Đài tới năm nào?
– Hai ngàn lẻ chín. – Ông nói. – Năm đó ông Phiệt muốn bếp ra hai trăm tộ một ngày. Không ai hun lá chuối hai trăm tộ được. Ổng cho bỏ, thay nước dừa xiêm cho ngọt. Tao không chịu. Tao cãi ổng trong bếp trước mặt cả bếp. Rồi tao đi. Thằng Long lên thay.
Ông nhìn ra cửa sổ.
– Năm sau tao về đây ở.
– Sao ông về hẻm này, ông Bảy?
Ông Bảy không trả lời câu đó. Ông chỉ nói:
– Năm mày xin vô Mộc Lan Đài, bà mày qua đây ngồi cả buổi chiều. Ngồi chỗ mày đang ngồi.
– Bà nói gì?
– Bà không nói gì. Bà ngồi. – Ông Bảy cầm ly cà phê sữa đã tan hết đá. – Rồi bà đứng dậy, nói một câu: "Để nó học ở chỗ người ta trả lương."
Thạch ra về lúc một giờ trưa. Anh đi bộ qua khúc quẹo thứ hai, ngang cửa nhà số năm mươi hai đóng im lìm vì bà Năm đi ăn giỗ. Anh mở cửa nhà mình, lên lầu, đặt tấm ảnh lên bàn thờ bên cạnh ảnh bà. Hai bà, một già một trẻ hơn, cùng cười hở cái răng khểnh.
Rồi anh xuống bếp, lôi cái tộ niềng đồng từ trên kệ xuống, đặt lên bàn, nhìn nó.
Sáu năm. Mỗi ngày hai trăm tộ. Anh tưởng mình là người giữ món cá kho của Mộc Lan Đài. Hóa ra anh chỉ giữ cái phần người ta đã bỏ bớt đi.
Và bà nội anh đã biết. Năm 2018, khi anh xin vào Mộc Lan Đài, bà đã biết anh sẽ đứng ở đâu, nấu món gì. Bà đã để anh đi. Những năm đó, trừ một năm ở Osaka, chủ nhật nào anh cũng về ăn cơm với bà, kể chuyện bếp nhà hàng, khoe món cá kho của anh được khách Úc chụp ảnh. Bà nghe, gật đầu, gắp thức ăn cho anh. Bà không nói một chữ.
Anh rút điện thoại ra, tìm số của ba. Lần cuối cùng anh gọi ba là Tết. Ba đang chạy xe ở đâu đó trên quốc lộ miền Trung, nói được hai câu thì mất sóng.
Chuông đổ năm hồi. Rồi giọng ba, khàn, cộc, lẫn tiếng động cơ xe tải.
– Gì?
– Ba. Con hỏi ba một chuyện.
– Nói lẹ, tao đang chạy.
– Năm hai ngàn lẻ bốn, bà nội bán món cá kho cho ông Phiệt, chủ nhà hàng Mộc Lan Đài. Ba có biết bà bán bao nhiêu không?
Đầu dây bên kia im bặt. Không còn tiếng ba thở. Chỉ còn tiếng động cơ xe tải gầm gừ, tiếng gió rít qua khe cửa kính, và tiếng một chiếc xe nào đó bóp còi dài ở xa.
Mười giây. Hai mươi giây.
– Ai cho mày nấu món đó? – Ba nói. Giọng ba không lớn. Giọng ba thấp tới mức Thạch phải áp sát điện thoại vào tai mới nghe được.
Rồi ba cúp máy.
Thạch gọi lại. Thuê bao không liên lạc được.
— Hết chương 9 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe