Chương 12: Máy lạnh ở đầu hẻm
Tấm bạt xanh được giật xuống lúc bảy giờ sáng thứ Hai, mùng một tháng Sáu, và cả hẻm Cây Điệp đứng nhìn như nhìn một đám cưới nhà giàu.
Căn nhà góc cạnh cây điệp đã thành một cái hộp kính. Cửa kính cường lực từ sàn tới trần, khung nhôm sơn màu xanh rêu. Bên trong là mười hai cái bàn gỗ sáng màu, ghế đệm, đèn vàng treo thấp. Trên tường có một bức tranh lớn vẽ một mâm cơm gia đình kiểu xưa: nồi đất, chén sành, đôi đũa tre gác ngang. Máy lạnh chạy từ sáu giờ sáng, hơi lạnh thoát ra mỗi lần cánh cửa kính mở, phả vào mặt người đi ngang một làn gió mát lạnh như mở tủ đông.
Trước cửa, hai cô nhân viên mặc áo thun xanh rêu đứng phát tờ rơi. Một tấm bảng đứng bằng gỗ ghi: "Khai trương. Cơm nhà 29.000đ. Miễn phí trà đá, canh, cơm thêm."
Bà Tám Ròm ngồi dưới gốc điệp, sát vách kính, ấm nhôm méo trên bếp than tổ ong. Hơi lạnh từ cửa kính thổi ra làm khói bếp than của bà bay ngược vào mặt bà.
Thạch đứng ở khúc quẹo thứ nhất nhìn. Anh nhìn tấm bảng đứng một lúc lâu. "Miễn phí trà đá, canh, cơm thêm." Đó là ba thứ quán anh cho không. Cái quán bên kia đã đọc kỹ quán anh trước khi mở cửa.
Trưa hôm đó, quán cơm bà Hai bán được ba mươi mốt dĩa.
Trưa thứ Ba, hai mươi tám dĩa. Thứ Tư, ba mươi ba. Hảo đếm tiền cuối buổi, không nói gì, chỉ khoanh tròn con số. Rồi khoanh thêm một vòng.
Đám thợ hồ của anh Lượm vẫn tới. Mấy bà già trong hẻm vẫn tới. Ông Bảy vẫn tới, mỗi chiều ba giờ rưỡi, một dĩa thịt kho, ba mươi lăm ngàn xếp phẳng dưới chén. Nhưng dân văn phòng đi mất gần hết. Mấy cô gái hay ngồi bàn sát cửa giờ ngồi sau vách kính đầu hẻm, ăn cơm trong máy lạnh, chụp ảnh mâm cơm có đôi đũa tre gác ngang. Những đơn giao cơm trên ứng dụng của Nguyên rơi từ hai mươi xuống còn sáu, bảy đơn một trưa.
– Bên kia giá hai chín ngàn chỉ một tuần khai trương thôi. – Nguyên nói, đọc từ điện thoại. – Em coi trên trang của họ, sau tuần khai trương là ba mươi chín ngàn.
– Ba mươi chín ngàn mà có máy lạnh. – Hảo nói. – Mình ba mươi lăm ngàn mà có quạt trần kêu lạch cạch.
Không ai cãi được chị.
Thứ Năm, mùng bốn, cô Lài tới. Cô không vào quán. Cô đứng ở đầu hẻm, nhìn vào cái hộp kính máy lạnh một lúc lâu, rồi đi bộ vào hẻm, đứng ở cửa nhà số bốn mươi bảy.
– Còn hai mươi sáu ngày. – Cô nói với Thạch. Giọng cô không ác. Giọng cô như người báo giờ. – Hết tháng Sáu. Cô hứa với con, cô giữ. Nhưng cô cũng hứa với ba con.
– Dạ con biết.
– Cô ghé hỏi thăm thôi. – Cô ngập ngừng, rồi rút trong túi ra một xấp khăn lau mới, khâu chỉ màu ở góc như kiểu Hảo đã khâu, đặt lên quầy. – Con Hảo nói khăn cũ rách rồi.
Tối hôm đó, khi quán đã đóng, bốn người ngồi quanh cái bàn trong cùng. Khế ngủ trên hai cái ghế ghép. Không ai bật quạt trần vì cái quạt kêu, và tối nay không ai muốn nghe nó kêu.
– Mình không giảm giá được. – Hảo nói trước. – Giảm xuống hai chín ngàn là mỗi dĩa lỗ bốn ngàn. Bên kia có công ty bỏ tiền. Mình có cái két sắt.
– Mình không lắp máy lạnh được. – Nguyên nói. – Em tính rồi. Lắp hai cái máy, tiền điện mỗi tháng thêm gần ba triệu. Mà cửa mình là cửa sắt kéo, lạnh thoát hết.
– Vậy mình làm gì? – Thạch hỏi.
Không ai trả lời. Tráng ngồi im, hai tay đặt trên mặt bàn, nhìn xuống những vết dao chằng chịt trên cái thớt gỗ me anh đã đem vào rửa.
Hảo lấy cây bút, kéo tờ lịch cũ của bà nội trên bàn lại gần, lật ra mặt sau.
– Tui nghĩ cái này. – Chị nói chậm, như đang tính trong đầu. – Bên kia có máy lạnh, có đèn vàng, có tranh vẽ. Nhưng bên kia không đi vô hẻm.
– Đi vô hẻm?
– Hẻm mình có mấy chục ông bà già. – Chị ghi xuống từng dòng. – Ông Tư mù ở khúc ba, bà Sáu chân yếu ở cuối hẻm, ông bà Chín sống một mình hai ông bà, con cái đi làm xa. Mấy người đó trưa nào cũng ăn mì gói hoặc cơm nguội. Họ không ra đầu hẻm nổi, mà ra rồi thì cũng không ngồi trong cái hộp kính lạnh ngắt đó.
– Rồi?
– Mình bán cơm tháng. Ba chục bữa trưa, chín trăm ngàn. Ba mươi ngàn một bữa. Mỗi trưa Nguyên đi bộ một vòng hẻm, đưa tới tận cửa. – Chị gõ bút xuống tờ giấy. – Rồi đám thợ hồ của anh Lượm. Công trình cuối hẻm còn làm sáu tháng nữa. Ba chục người. Họ ăn cơm ở đây vì cơm thêm không tính tiền, mà giờ bên kia cũng không tính. Mình bán cơm tháng cho họ luôn, giá đó, giao tận công trình, khỏi đi bộ ra.
Nguyên đã mở điện thoại, bấm máy tính.
– Có ba chục suất cơm tháng thì mỗi tháng thêm hai mươi bảy triệu, chị Hảo. – Cậu nói. – Trừ tiền chợ, còn…
– Còn chừng mười triệu. – Hảo nói trước khi cậu bấm xong. – Không đủ bù. Nhưng đủ giữ.
Thạch nhìn tờ lịch cũ. Mặt sau tờ lịch đã có ba lần tính toán của anh, hai lần tính toán của Hảo, giờ thêm một lần nữa. Anh nghĩ tới bà nội. Bà bán cơm bốn mươi ba năm trong con hẻm này. Ông Tư mù, bà Sáu chân yếu, ông bà Chín. Bà biết tên họ hết. Có lẽ bà cũng từng mang cơm tới tận cửa nhà họ.
– Mai mình làm. – Anh nói.
Tráng vẫn im. Khi mọi người đứng dậy dọn dẹp, anh mới nói, giọng nhỏ:
– Mai tui nghỉ buổi trưa một chút được không? Tui đi ăn cơm.
– Anh đi ăn ở đâu?
Tráng hất đầu về phía đầu hẻm.
Trưa thứ Sáu, mùng năm, Tráng thay cái áo thun trắng bằng cái áo sơ mi kẻ ca rô chị Thắm mua cho anh ở chợ, đội cái nón lưỡi trai che bớt nửa mặt, kéo cổ áo lên cao. Anh đi bộ ra đầu hẻm, đẩy cánh cửa kính, bước vào cái hộp máy lạnh.
Anh ngồi đó bốn mươi phút. Anh gọi một dĩa cơm cá kho và một dĩa cơm gà. Anh ăn hết cả hai dĩa, chậm, cẩn thận, như ăn bữa cơm đầu tiên sau khi ra tù.
Khi anh về, mặt anh không đổi, nhưng anh đi thẳng vào bếp, kéo Thạch ra sân sau.
– Gà không chặt. – Anh nói. – Gà xé. Xé bằng máy hay bằng tay tui không biết, nhưng sợi đều quá, không phải tay người. Ăn vô thì mềm, mà nhạt. Nước mắm chấm gà ngọt như nước đường.
– Còn cá kho?
– Cá kho thì tui không biết nói sao. – Tráng ngừng lại. – Cá ngon. Cá thật. Mà nước kho với cá như hai thứ khác nhau, giống người ta kho nước riêng rồi đổ lên cá. Rồi đồ ăn để trong mấy cái khay inox, sau quầy, có cái tủ hâm nóng. Tui ngồi đối diện, thấy cô nhân viên xé một cái túi nhựa hút chân không, đổ cái gì đó màu nâu vô khay, bỏ vô tủ hâm.
Thạch gật đầu. Anh biết cái đó. Bếp trung tâm. Mọi thứ được nấu ở một nơi khác, đóng túi, chở tới, hâm lại. Mộc Lan Đài đã làm thử cái đó từ năm ngoái cho mấy suất ăn đặt văn phòng.
– Còn một cái nữa. – Tráng nói. – Tui ăn xong, đi ra cửa sau, giả bộ hỏi nhà vệ sinh. Cửa sau thông ra cái hẻm nhỏ bên hông. Có một chiếc xe tải nhỏ đậu ở đó. Màu xanh lá. Hai thằng đang khiêng thùng xuống.
– Thùng gì?
– Thùng nhựa trắng. Loại hai chục lít. Không có nhãn. – Tráng nhìn anh. – Chú Thạch nói hôm trước, cái thùng biến mất ở nhà hàng chú, thùng nhựa trắng hai chục lít.
Thạch đứng im. Anh nhớ chiếc xe tải màu xanh lá lùi vào cổng sau Mộc Lan Đài lúc gần nửa đêm. Sáu thùng nhựa trắng.
– Anh có thấy chữ gì trên xe không?
– Có, mà tui đọc không kịp. Có chữ trên cửa xe, màu trắng. Chữ dài.
Chiều hôm đó, sau giờ đóng quán, Hảo và Nguyên đi một vòng hẻm. Hảo cầm cái cà mèn ba ngăn đựng thịt kho, canh chua, rau luộc, Nguyên cầm tờ giấy ghi giá. Họ gõ cửa từng nhà.
Ông Tư mù ở khúc quẹo thứ ba ngồi trên cái ghế mây ngoài hiên, nghe tiếng Hảo chào thì nghiêng đầu, mũi hơi nhích lên.
– Thịt kho hả? – Ông hỏi trước khi Hảo kịp mở nắp. – Mỡ có trong không?
– Dạ trong như hổ phách ông.
Ông Tư đưa bàn tay gầy ra. Hảo đặt cái muỗng vào tay ông, đỡ cà mèn cho ông múc. Ông ăn một miếng, nhai bằng mấy cái răng còn lại, rồi ngồi im.
– Giống bà Hai. – Ông nói. – Không giống hết. Mà giống.
Ông đặt cọc ba trăm ngàn, tiền lẻ móc từ trong cái ống tre trên bàn thờ. Bà Sáu chân yếu đặt một suất cho bà và một suất cho đứa cháu học cấp ba ở với bà. Ông bà Chín đặt hai suất, dặn cơm nấu mềm vì ông Chín mới nhổ răng. Tối thứ Bảy, tờ giấy của Nguyên có mười một cái tên trong hẻm. Anh Lượm đặt thêm mười tám suất cho đội thợ hồ, trả trước nửa tháng, đếm tiền ngay trên nắp thùng sơn.
Hai mươi chín suất. Hảo ghi con số đó lên mặt sau tờ lịch, không khoanh tròn.
Chiều thứ Bảy, Nguyên tự đi.
Cậu không vào cái hộp kính. Cậu đậu xe máy ở bên kia đường lớn, đối diện con hẻm nhỏ bên hông cửa hàng, ngồi trên xe, mở điện thoại giả bộ chờ đơn giao hàng. Cậu ngồi ba tiếng. Ba giờ chiều, chiếc xe tải nhỏ màu xanh lá chạy tới, lùi vào hẻm nhỏ.
Nguyên đọc được chữ trên cửa xe. Cậu chụp một tấm ảnh, phóng to, nhìn lại cho chắc.
Rồi cậu ngồi yên trên xe máy rất lâu, lâu tới mức chiếc xe tải đã giao xong hàng và chạy đi mà cậu vẫn chưa nổ máy.
Tối hôm đó cậu tới quán lúc tám giờ, khi Thạch đang lau bếp một mình. Cậu không chào. Cậu đứng ở cửa bếp, chìa điện thoại ra.
Trên màn hình là tấm ảnh chiếc xe tải màu xanh lá, cửa xe có một dòng chữ trắng in kiểu chữ đậm: "Công ty TNHH Thực phẩm Phúc Hưng Thịnh". Bên dưới có một số điện thoại và một địa chỉ ở một khu công nghiệp phía tây thành phố.
– Anh Thạch. – Nguyên nói. Giọng cậu không còn cái kiểu lễ phép rụt rè thường ngày. Giọng cậu căng như dây đàn. – Hè năm hai ngàn hai mươi bốn, năm em học năm nhất, em đi thực tập ba tháng. Ở xưởng này.
— Hết chương 12 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe