Chương 4: Ngày khai trương mười một dĩa
Mười giờ kém năm sáng thứ Hai, mùng sáu tháng Tư, cái cầu dao tổng trong nhà số bốn mươi bảy nhảy cái tách, và cả quán cơm tối om đúng lúc người khách đầu tiên bước vào.
– Ủa, cúp điện hả? – Người khách, một anh xe ôm áo khoác xanh, đứng khựng ở cửa.
– Dạ không, anh ngồi đi, một chút xíu thôi. – Hảo nói nhanh, kéo ghế cho anh ta, mắt liếc vào trong bếp như muốn đốt cháy ai đó.
Trong bếp, Tráng đã đứng trên cái ghế đẩu, mở hộp cầu dao bằng đèn pin điện thoại. Thạch đứng bên dưới, tay vẫn còn cầm cái vá. Nồi cơm điện công nghiệp mười lít là cái nồi anh mua lại với giá một triệu tám của một quán cơm sinh viên vừa đóng cửa. Nó vừa được cắm vào cùng lúc với cái tủ lạnh cũ, cái quạt hút và hai cái quạt trần. Cầu dao nhà bà nội anh được lắp từ năm hai ngàn lẻ mấy, cho một cái quán bán bằng bếp ga và một cái quạt máy.
– Nồi cơm chạy riêng một đường. – Tráng nói, giọng bình thản như đang đọc thời tiết. – Tui kéo dây tạm qua ổ ngoài sân. Mười phút.
– Cơm mới chín được nửa nồi anh.
– Thì nửa nồi còn lại nấu bằng nồi gang trên bếp ga. Hồi trong trại cúp điện hoài, tui nấu cơm tám trăm người bằng chảo gang.
Đèn bật lại lúc mười giờ mười hai. Anh xe ôm áo xanh đã đi mất. Trên bàn còn ly trà đá Hảo rót cho anh ta, đá chưa tan hết.
Thạch đứng nhìn ly trà đá ấy lâu hơn anh muốn.
Đêm qua anh đã thức tới hai giờ để chuẩn bị. Tám món bày trong tủ kính: thịt kho trứng, cá lóc kho tộ, sườn ram mặn, canh chua cá, canh khổ qua dồn thịt, đậu hũ sốt cà, rau muống xào tỏi, trứng chiên. Cơm dĩa ba mươi lăm ngàn, có canh, có trà đá. Anh định thêm món cá kho bông lau làm món đặc biệt, rồi lại bỏ. Anh không muốn nấu món của Mộc Lan Đài trong bếp của bà.
Mười giờ rưỡi, hai cô nhân viên văn phòng đi ngang, đứng lại nhìn tấm bảng gỗ "Quán cơm bà Hai" mà Thạch đã lau sạch nhưng không sơn lại.
– Quán bà Hai mở lại hả chị? – Một cô hỏi Hảo.
– Dạ mở lại, cháu nội bả nấu. Em vô ăn thử đi em.
Hai cô bước vào. Một cô gọi sườn ram, một cô gọi cá kho. Thạch xúc cơm, gắp món, đặt dĩa lên quầy. Tráng bưng ra.
Tráng mặc áo thun trắng mới, tạp dề xanh, tóc vừa cắt lại sáng nay. Nhưng không có cái áo nào che được vết sẹo chạy từ mang tai xuống cổ. Anh đặt hai dĩa cơm xuống, nói nhỏ: "Mời hai cô." Cô gái gọi cá kho ngẩng lên, nhìn thấy vết sẹo, và theo phản xạ kéo cái túi xách trên ghế bên cạnh lại gần mình.
Tráng thấy. Anh lùi lại hai bước, quay vào bếp, không nói gì. Từ đó tới cuối buổi, anh không bước ra khỏi cửa bếp lần nào nữa.
Mười một giờ, Hảo xin đi đón con. Mười một giờ hai mươi, chị quay lại, dắt theo một con bé sáu tuổi, tóc cột hai chùm, mặc đồng phục mẫu giáo màu cam, đeo cái ba lô hình con thỏ. Con bé tên Khế. Nó đứng ở cửa bếp nhìn Tráng chừng ba giây, rồi chỉ vào cổ anh:
– Chú ơi, cái này của chú bị sao dậy?
Hảo giật mình kéo con lại.
– Khế! Không được hỏi dậy.
– Hồi đó chú bị té. – Tráng nói, không nhìn Hảo, chỉ nhìn con bé. – Té mạnh lắm.
– Té có đau hông chú?
– Đau. Mà lâu rồi, hết đau rồi.
Khế gật đầu như đã hiểu hết mọi chuyện trên đời, rồi bỏ ra ngồi ở cái bàn sát tường, mở ba lô lấy hộp bút màu ra vẽ. Tráng đứng nhìn con bé một lúc, rồi quay lại chặt nốt nửa con gà.
Mười hai giờ là giờ cao điểm. Ở Mộc Lan Đài, mười hai giờ trưa là lúc cả bếp như một cái máy chạy hết công suất. Ở hẻm Cây Điệp, mười hai giờ trưa ngày khai trương, quán cơm bà Hai có bốn người khách.
Một ông già ở khúc quẹo thứ ba, ăn dĩa thịt kho trứng, khen "giống bà Hai" rồi chê "mà thịt ít mỡ quá". Một bà bán vé số, gọi dĩa cơm không, xin thêm canh. Hai anh thợ điện đang sửa đường dây ngoài hẻm, ăn vội rồi đi.
Một giờ, Nguyên chạy về sau khi giao bốn phần cơm cho một văn phòng gần đó, mồ hôi ướt hết lưng áo khoác.
– Anh Thạch, bốn phần đó là bốn phần duy nhất em giao được. – Cậu nói, thở dốc. – Em mở trang của quán trên ứng dụng giao đồ ăn rồi, mà quán mới, chưa có đánh giá, không ai bấm vô.
Thạch gật đầu. Anh không biết nói gì.
Hai giờ chiều, Hảo đếm tiền ở quầy. Chị đếm hai lần, lần thứ hai chậm hơn lần thứ nhất.
– Mười một dĩa. – Chị nói. – Ba trăm tám mươi lăm ngàn. Trừ tiền chợ sáng nay một triệu chín trăm hai. Âm một triệu năm trăm ba mươi lăm. Chưa tính ga, điện, lương.
Không ai nói gì. Quạt trần quay lạch cạch. Khế vẫn ngồi vẽ, cái bút màu đỏ cọ lên giấy nghe sột soạt. Trong tủ kính, tám món ăn vẫn còn gần nguyên, thịt kho đã nguội, mỡ đông lại thành những vảy trắng trên mặt nước kho.
– Ngày đầu mà. – Nguyên nói, giọng không tin lắm vào lời mình.
– Ngày đầu quán tui bán bánh canh, tui bán được ba mươi tô. – Hảo nói. – Bánh canh đó.
Chị không nói ác. Chị nói như người đọc con số. Nhưng Thạch nghe câu đó như một cái tát.
– Đồ ăn dư sao anh? – Nguyên hỏi.
Thạch nhìn tủ kính. Ở nhà hàng, đồ ăn dư cuối ca được đổ bỏ, đó là luật. Ở đây, mỗi khay thịt kho là bốn trăm ngàn tiền chợ.
– Chia ra mỗi người mang về một ít. – Anh nói. – Phần còn lại…
– Phần còn lại để tui. – Hảo nói. Chị đứng dậy, lấy mấy cái hộp nhựa trong tủ, bắt đầu xới cơm, gắp thịt, gắp cá, đậy nắp. Chị làm nhanh, gọn, không hỏi ý ai. – Tui có mấy mối khách bánh canh sáng nay là thợ hồ ở công trình cuối hẻm. Chiều họ hay mua đồ ăn tối mang về phòng trọ. Tui đem ra bán giá vốn, hai chục một hộp. Được đồng nào hay đồng đó.
– Chị Hảo…
– Mai cậu nấu ít lại. Tám món là nhiều quá. Năm món thôi. Mỗi món một khay nhỏ. Hết thì nấu thêm, đừng nấu sẵn cho đẹp tủ.
Chị chất mười bốn hộp cơm vào hai cái túi ni lông to, dắt Khế đi ra đầu hẻm. Nguyên ngồi xuống bàn, mở điện thoại, gõ gõ một lúc.
– Anh Thạch, hẻm mình có nhóm chat chung đó anh. Tổ dân phố lập. Mấy bà trong hẻm hay nhắn rao đồ trong đó. Em xin chị Hảo vô rồi. – Cậu ngẩng lên. – Em đăng hình quán lên được không anh?
– Đăng gì?
– Đăng hình tấm bảng "Quán cơm bà Hai" thôi anh. Em ghi "mở lại rồi". Người trong hẻm biết bà Hai hết mà.
Thạch nghĩ một lúc. Rồi gật.
Ba giờ, Tráng về. Nguyên chạy đơn chiều. Thạch ngồi một mình trong quán.
Anh đã nghĩ người đầu tiên sẽ tới ăn là ông Bảy Thức. Suốt buổi trưa anh nhìn ra cửa mấy lần, thấy ông vẫn ngồi dưới gốc điệp như mọi ngày, uống cà phê, không nhìn về phía quán. Mười hai giờ ông đứng dậy đi vào hẻm, đi ngang qua cửa quán, không dừng.
Ba giờ rưỡi, ông Bảy đi ra. Ông dừng lại trước cửa quán, nhìn tấm bảng gỗ một lúc, rồi bước vào, ngồi xuống cái bàn sát tủ kính.
– Cơm. – Ông nói. – Thịt kho.
Thạch đứng dậy, xới cơm. Nồi cơm đã nguội. Anh đổ một chén nước sôi vào, đậy nắp, chờ hai phút cho cơm hấp lại. Anh múc thịt kho từ khay đã nguội vào cái nồi nhỏ, đun cho sôi lăn tăn. Anh gắp ba miếng thịt, một quả trứng cắt đôi, chan nước kho, thêm mấy cọng dưa giá. Theo thói quen, khi múc nước kho từ nồi nhỏ ra, anh gõ cái vá vào thành nồi ba cái: keng, keng, keng. Anh không để ý mình vừa làm vậy.
Ông Bảy ăn chậm. Ông ăn hết cơm, hết thịt, hết trứng, chan nước kho vào chén canh rồi uống. Ông không nói gì. Khi ăn xong, ông đặt ba mươi lăm ngàn lên bàn, tờ hai chục, tờ mười, tờ năm, xếp phẳng, đè bằng cái chén. Rồi ông đi ra.
Thạch dọn dĩa. Dĩa sạch như được liếm. Anh đứng cầm cái dĩa đó, không biết nên vui hay không.
Bốn giờ chiều, nắng dịu lại, hẻm bắt đầu có tiếng con nít đi học về, tiếng rao bánh mì, tiếng xe máy luồn qua những khúc quẹo. Thạch kéo cửa sắt xuống một nửa, bắt đầu rửa xoong.
– Có ai trong đó không?
Giọng một bà già. Chậm, rõ, có cái âm Nam bộ cũ mà bây giờ chỉ còn nghe trong mấy bộ phim xưa.
Thạch chui ra dưới cửa sắt. Ngoài hẻm, một bà cụ đứng chống cây gậy gỗ, lưng còng nhưng đầu ngẩng cao. Bà mặc áo bà ba lụa màu xám tro, quần đen, chân đi đôi guốc mộc. Tóc bà bạc trắng, búi gọn sau gáy bằng một cây trâm đồi mồi. Mắt bà đục ở một bên nhưng bên kia sắc như dao.
Anh nhận ra bà ngay. Bà Năm Kiều, nhà số năm mươi hai, chéo bên kia hẻm. Hồi nhỏ, chiều thứ Năm nào anh cũng thấy bà nội bưng cái tộ niềng đồng sang nhà bà.
– Dạ, con chào bà Năm.
Bà Năm nhìn anh từ đầu tới chân, chậm như ông Bảy, nhưng khác: cái nhìn của bà không đo, mà dò.
– Con là thằng Thạch, cháu chị Hai.
– Dạ.
– Lớn quá. – Bà nói, như ghi nhận một sự thật không vui không buồn. – Tao nghe người ta nói con mở lại quán.
– Dạ, con mở hôm nay. Bà vô ăn cơm không bà? Con hâm lại cho bà.
– Tao không ăn cơm bây giờ. – Bà gõ cây gậy xuống mặt hẻm một cái. – Tao hỏi con một chuyện. Quán bà Hai mở lại thì có cá kho không?
Thạch khựng lại.
– Dạ, có cá lóc kho tộ bà. Mai con…
– Cá lóc. – Bà Năm lặp lại, như người ta lặp lại tên một món mình không ăn được. – Tao không hỏi cá lóc. Tao hỏi cá kho của chị Hai. Cá bông lau. Kho trong cái tộ niềng đồng.
Gió chiều thổi dọc con hẻm, mang mùi khói nhang từ một nhà nào đó đang cúng chiều thứ Hai. Thạch nhìn bà cụ. Trong đầu anh hiện ra cái tộ dưới gầm giường, cái đai đồng xỉn màu có vết búa, hai cái đinh tán nhỏ.
– Bà nội con… bán cá kho bông lau hả bà? – Anh hỏi. – Hồi con còn ở nhà, con đâu thấy bà bán.
– Chị Hai không bán. – Bà Năm nói. – Chị Hai nấu cho tao. Thứ Năm nào cũng nấu. Mười tám năm, không sót tuần nào, trừ hai tuần chỉ nằm nhà thương.
Bà dừng lại. Bà nhìn qua vai Thạch, vào cái bếp tối phía sau, nơi ba họng bếp ga đã tắt.
– Thứ Năm này, – bà nói, – con nấu cho tao một tộ. Tao trả tiền như khách.
Rồi bà quay lưng, gõ gậy đi về phía nhà số năm mươi hai, không chờ anh trả lời.
— Hết chương 4 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe