Chương 27: Ba của Thạch
Ba nhóm lò than lúc chín giờ tối thứ Ba, dù không phải tối thứ Tư, dù không có tộ cá nào cần vùi tro, và khi Thạch hỏi ông nhóm làm gì, ông chỉ nói:
– Mưa. Ngồi gần lửa cho ấm.
Cơn mưa cuối mùa đổ xuống hẻm Cây Điệp từ chiều, không to, nhưng dai, rả rích trên mái tôn như ai đó gõ ngón tay lên mặt bàn. Ba ngồi trên cái ghế đẩu cạnh lò, cánh cửa gió mở hé một khe, ngọn lửa than đước đỏ sẫm. Cô Lài ngồi trên bậc cửa bếp, khoác cái áo len mỏng. Thạch ngồi trên cái thùng sơn úp ngược.
Ba về từ chiều thứ Hai. Lần này ba không có chuyến hàng nào. Cô Lài gọi ba, kể chuyện tờ giấy của Tòa án. Ba chạy xe khách từ Đà Nẵng vào, để cái xe tải lại kho ngoài đó, xin nghỉ ba ngày. Ba không nói ông về để làm gì. Nhưng sáng nay ông đã ra đầu hẻm mua một cái áo sơ mi trắng mới, gấp nếp còn nguyên, treo trên cái móc trong phòng nhỏ phía sau. Sáng mai, chín giờ, phiên hòa giải.
Trưa nay ba ăn cơm ở quán, ngồi cái bàn sát tủ kính, cạnh ông Bảy. Hai ông già ăn hai dĩa thịt kho, không nói với nhau câu nào, nhưng khi ông Bảy đứng dậy, ba cũng đứng dậy, và cả hai xếp ba mươi lăm ngàn dưới chén giống hệt nhau. Ngà bưng canh ra cho ba. Ba nhìn cô, hỏi Thạch con nhỏ này ở đâu ra. Thạch nói ở bếp Mộc Lan Đài. Ba nhìn Ngà thêm một lúc, rồi nói, không với ai:
– Thằng Long hồi đó cũng ốm nhom như con nhỏ này. Tay chân lóng ngóng. Má thương.
Chiều, luật sư Khải ghé qua quán, ngồi với Thạch một tiếng, đọc lại văn bản ghi ý kiến đã nộp Tòa tuần trước, dặn từng câu nên nói ở phiên hòa giải. Ba ngồi ở bậc thềm nghe hết, không chen vào chữ nào. Khi luật sư về, ba hỏi đúng một câu: "Ở trỏng mày có được ngồi không, hay phải đứng?" Thạch nói được ngồi. Ba gật đầu, như vừa yên tâm một chuyện lớn.
Ba cời lửa bằng cây que sắt. Một cục than đỏ lăn ra, ông gắp nó bỏ lại vào giữa lò.
– Mày muốn biết năm hai ngàn lẻ bốn. – Ông nói. Không phải câu hỏi.
Thạch không trả lời. Cô Lài kéo áo len sát vào người.
– Tao kể một lần. – Ba nói. – Kể xong thì thôi. Đừng hỏi lại.
Ông kể. Giọng ông không cộc như mọi khi. Giọng ông đều, thấp, như giọng người đọc lại một bản khai đã viết sẵn từ lâu mà chưa nộp.
– Năm đó tao ba mươi ba tuổi. Lái xe tải cho một công ty vận chuyển. Tiền lương không ít. Mà tao có thói đánh bài. Ban đầu là bài cào với mấy ông tài xế ở bến xe, tiền cà phê. Rồi một thằng bạn dắt tao vô một cái sòng trong Chợ Lớn. Rồi tới mấy tháng cuối mùa bóng đá bên Tây, tháng Ba, tháng Tư, tao cá độ.
Ông dừng lại, nhìn ngọn lửa.
– Tao thua. Thua thì vay. Vay chỗ này trả chỗ kia. Vay của mấy thằng cho vay nặng lãi, một trăm triệu, một tuần lãi mười. Tới cuối tháng Năm năm đó, tính cả gốc cả lãi, tao nợ bốn trăm triệu.
– Bốn trăm triệu năm hai ngàn lẻ bốn. – Cô Lài nói, giọng run. – Anh Hai, hồi đó cái nhà này bán chưa được một tỷ.
– Tao biết. – Ba nói. – Tao biết.
Mưa rơi trên mái tôn. Ngọn lửa trong lò reo lên một tiếng nhỏ.
– Tụi nó tới nhà. – Ba nói. – Đêm đầu, tụi nó tạt mắm tôm lên cửa sắt. Đêm thứ hai, tụi nó đứng ngoài hẻm chửi, kêu tên má, kêu tên tao, cả hẻm nghe. Đêm thứ ba, một thằng xăm con rồng trên cánh tay cầm cái can xăng đứng trước cửa quán, nói một tuần nữa không trả thì nó đốt. Tao trốn trên lầu. Tao ba mươi ba tuổi, tao trốn trên lầu, để má sáu mươi ba tuổi ra mở cửa nói chuyện với tụi nó.
Ông cười, một tiếng khô, ngắn, rồi tắt.
– Má không la tao một câu. Má bán hết vàng. Ba chục triệu. Má đem ba chục triệu ra đưa tụi nó, tụi nó cười.
Thạch ngồi im. Anh nhớ ra một chuyện mà bà Năm đã nói hồi tháng Bảy, như một mẩu ghép rơi đúng vào chỗ trống: "Năm hai ngàn lẻ bốn. Mấy thằng xăm trổ."
– Ông Phiệt, – ba nói, – ăn cơm quán má từ năm hai ngàn lẻ ba. Hồi đó ổng ở gần đây, sáng nào cũng đi bộ tập thể dục ngang qua hẻm. Một trưa ổng ghé ăn. Hôm đó là thứ Năm. Má lỡ dọn cho ổng tộ cá kho bông lau của nhà, cái tộ má vùi tro từ tối thứ Tư để chiều cả nhà ăn. Ổng ăn một miếng, ổng ngồi im một hồi lâu. Từ đó tuần nào ổng cũng tới, ngồi cái bàn trong cùng, xin má bán cho ổng cá kho. Má nói món đó không bán, nấu cho người nhà thôi. Ổng hỏi mua công thức, má cười.
– Má cười. – Cô Lài lặp lại, như không tin.
– Ờ. Má cười. Má nói: "Món này không có công thức, chú. Có cái lò với cái tộ thôi." – Ba cời lửa. – Rồi tới cái đêm thằng xăm rồng cầm can xăng. Sáng hôm sau má mặc áo bà ba tím, cái áo má mặc đi đám cưới, đi bộ ra đường lớn. Má không nói đi đâu. Tối má về. Ba ngày sau, tụi nó không tới nữa.
– Má đi gặp ông Phiệt. – Thạch nói.
– Má đi gặp ông Phiệt. – Ba nói. – Ông Phiệt cho luật sư của ổng đi gặp tụi cho vay, trả đủ bốn trăm triệu, bắt tụi nó ký giấy xóa nợ, có người làm chứng. Đổi lại, má dạy bếp nhà hàng mới của ổng món cá kho. Ba tháng. Má hứa từ đó không bán món đó nữa, không nói với ai món đó của má. Nhà hàng của ổng là của ổng, món là của ổng.
– Sao ba biết?
– Má nói tao. – Ba nói. – Cái đêm tụi nó không tới nữa, má kêu tao xuống bếp. Má ngồi chỗ tao đang ngồi đây, trước cái lò này. Má nói hết, một lần, rồi má nói: "Má bán món cá kho rồi. Từ nay con đừng đụng tới bài bạc. Con mà đụng nữa, má không còn món gì để bán."
Ba im lặng. Mưa vẫn rơi. Cô Lài đã khóc từ lúc nào, không thành tiếng, nước mắt chảy dài xuống cái áo len.
– Ba tháng má đi dạy bếp. – Ba nói tiếp. – Năm giờ sáng má đi, hai giờ chiều má về, tao chở. Ngày nào tao cũng đứng ở cổng sau nhà hàng chờ má, nhìn vô cái bếp. Thằng Long đứng cạnh má ở lò than, mặt mũi non choẹt. Má cầm tay nó chỉ cách đậy lá chuối. Tao đứng ngoài cổng, tao nghĩ: cái đó là của tao. Cái vỉ tre là tao đan. Tối thứ Tư là tao ngồi canh lò. Giờ má đem cho thằng khác.
– Ba ghen. – Thạch nói.
Ba không phủ nhận.
– Tao không ghen với thằng Long. – Ông nói. – Tao ghen với tao. Với cái thằng tao ba mươi ba tuổi trốn trên lầu.
Ông ném cây que sắt xuống nền gạch tàu.
– Nhà hàng khai trương. Một năm sau, đông như kiến. Báo chí viết về cá kho tộ Mộc Lan. Khách nước ngoài tới chụp hình. Má vẫn bán cơm ba ngàn một dĩa ở đây. Tao chịu không nổi. Tao đi nhậu với mấy ông tài xế, tao nói thằng chủ nhà hàng đó cướp món của má tao. Tao nói hoài. Nói riết, tao tin.
– Tại vì nói "cướp" thì không ai hỏi tại sao. – Thạch nói.
Ba nhìn anh. Lần đầu tiên trong buổi tối, ba nhìn thẳng vào mắt anh.
– Ờ. – Ông nói. – Nói "cướp" thì người ta thương má, người ta chửi ổng. Nói "bán" thì người ta hỏi bán để làm gì. Rồi người ta hỏi tới tao.
Ông nhặt cây que sắt lên lại, cời một cục than.
– Năm sau má mày bỏ đi. – Ông nói, nhỏ hơn. – Mày bảy tuổi. Người ta nói má mày theo trai. Không phải. Má mày bỏ đi vì má mày biết chuyện bốn trăm triệu. Má mày nói với tao một câu: "Tui không sống với người để má mình đi bán đồ trả nợ cho." Rồi đi. Tao không cản. Tao lên xe chạy hàng. Từ đó tới giờ, tao chạy hàng.
Thạch nhìn ba. Hai mươi mốt năm anh lớn lên với câu "má mày theo trai", câu người lớn trong hẻm nói với nhau khi tưởng anh không nghe. Anh chưa từng hỏi ba. Ba chưa từng nói.
Cô Lài đứng dậy. Cô đi tới, đứng trước mặt anh trai mình, tay nắm chặt hai vạt áo len.
– Anh Hai để má gánh một mình. – Cô nói. Giọng cô không to, nhưng nó rách ở giữa. – Hai chục năm. Em ở Thủ Đức, tháng về một lần. Em tưởng má buồn vì anh đi xa. Má không nói. Anh không nói. Em là con gái út, em không đáng được biết hả anh Hai?
Ba ngẩng lên nhìn em gái. Ông không trả lời. Rồi ông cúi đầu xuống, thấp, như hôm ở giữa hẻm khi bà Năm nói "hai chục năm nay mày lúc nào cũng có chuyến hàng".
Cô Lài đứng thêm một lúc. Rồi cô ngồi xuống bậc cửa, cạnh anh trai, vai sát vai. Cô không nói gì thêm.
Mưa ngớt dần. Tiếng mái tôn thưa lại. Ngọn lửa trong lò đã xuống, than đỏ sẫm dưới lớp tro trắng.
– Cái nhà này, – ba nói, sau một hồi rất lâu, – không bán. Tao nói với con Lài rồi. Hồi tháng Năm tao đòi bán là tại tao muốn đốt cho hết. Đốt cái nhà, đốt cái lò, đốt luôn cái tộ. Cho hết chuyện. – Ông nhìn cái tộ niềng đồng úp trên kệ gạch. – Rồi tao về, thấy mày đứng bếp. Tao nếm cá kho của mày. Thiếu. Tao biết thiếu cái gì. Tao không nói. Tao sửa cái cửa gió lò.
– Sao ba sửa?
– Tại tao muốn coi mày có tự mò ra không. – Ba nói. – Má không cho tao nói. Mà má đâu có cấm tao sửa lò.
Thạch bật cười. Anh không định cười. Nó tự bật ra, như hơi nước đẩy nắp nồi. Ba nhìn anh, rồi khóe miệng ông cũng nhích lên, một chút, rồi thôi.
Thạch đứng dậy khỏi cái thùng sơn. Anh nghĩ câu chuyện đã hết. Anh định vào bếp đun ấm nước pha trà.
– Còn một chuyện. – Ba nói.
Anh dừng lại ở cửa bếp.
Ba không quay đầu. Ông vẫn nhìn ngọn lửa, cây que sắt trong tay.
– Năm hai ngàn hai mươi hai, má gọi tao. – Ông nói. – Tao đang ở Lạng Sơn. Má nói ông Phiệt tới nhà, ngồi cái bàn trong cùng, như hồi hai ngàn lẻ bốn. Ổng nói ổng nghe thằng Thạch gõ đũa trong bếp nhà hàng, ổng biết là cháu má. Ổng nói ổng muốn cho mày đi học bếp ở Nhật một năm.
– Con biết. – Thạch nói. – Ông Bảy kể con rồi.
– Ông Bảy kể mày cái gì?
– Ông Phiệt chọn con đi Nhật.
– Ông Bảy không biết hết. – Ba nói. – Má nói với tao một câu nữa mà má không nói với ông Bảy.
Ông đặt cây que sắt xuống. Ông quay lại, nhìn Thạch đứng ở cửa bếp, trong cái áo thun cũ, dưới bóng đèn huỳnh quang.
– Ổng còn trả tiền cho mày đi Nhật nữa. – Ba nói. – Tiền riêng của ổng, không phải tiền nhà hàng. Ổng dặn thằng Long không bao giờ được đòi. Má dặn tao đừng nói.
— Hết chương 27 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe