Chương 11: Khách quen của bếp cũ
Long ngồi xuống cái bàn sát tủ kính, đúng chỗ ông Bảy Thức đã ngồi hôm khai trương, và đặt điện thoại lên mặt bàn inox, màn hình úp xuống.
– Cá kho. – Anh ta nhắc lại, nhìn Hảo. – Với một ly trà đá.
Hảo không nhúc nhích. Chị nhìn vào bếp. Thạch gật đầu với chị, rất nhỏ.
Hôm nay quán có cá bông lau kho. Từ tuần thứ ba, sau khi Hảo bắt anh bán phần cá dư từ những tộ bà Năm chê, Thạch đã đưa cá kho bông lau vào thực đơn. Năm mươi lăm ngàn một phần, mỗi ngày kho một nồi nhỏ. Nồi hôm nay kho theo cách anh thử tuần trước: nước mắm nhĩ, nước màu đường thốt nốt, không nước dừa. Không phải cách của Mộc Lan Đài. Cũng chưa phải cách của bà.
Anh múc hai khúc cá ra một cái tộ đất nhỏ, loại tộ bình thường mua ở chợ, không có đai đồng. Anh rắc tiêu. Anh cầm đôi đũa lên, định gõ, rồi dừng lại. Anh đặt đũa xuống, không gõ.
Tráng bưng ra. Khi anh đặt tộ cá xuống trước mặt Long, Long ngẩng lên nhìn vết sẹo, nhìn từ mang tai xuống cổ, nhìn chậm, như cố ý cho Tráng thấy mình đang nhìn.
– Cảm ơn. – Long nói.
Tráng quay đi. Ở bậc thềm, ba Thạch đã dụi điếu thuốc. Ông vẫn ngồi đó, nhưng giờ ông xoay người, lưng tựa vào khung cửa, mặt nhìn vào trong quán.
Long ăn. Anh ta ăn như một giám khảo: cắt miếng cá bằng cạnh đũa, nhìn thớ thịt, đưa lên mũi ngửi, rồi mới cho vào miệng. Anh ta nhai lâu. Anh ta chấm thêm một chút nước kho, nếm lại. Rồi anh ta đặt đũa xuống, lau miệng bằng tờ khăn giấy.
– Không có nước dừa. – Anh ta nói to, đủ để Thạch trong bếp nghe. – Mày bỏ nước dừa à?
Thạch bước ra khỏi bếp. Anh lau tay vào tạp dề, đứng cách cái bàn hai bước.
– Dạ.
– Sao bỏ?
– Em thử.
– Thử. – Long gật gù. Rồi anh ta cười, cái cười ngắn mà Thạch đã nghe hàng ngàn lần. – Mày biết món cá kho Mộc Lan là tài sản của công ty không? Công thức đấy, cách trình bày đấy, cái tộ đai đồng đấy. Mày mang về đây, bỏ bớt một thứ, rồi bán ba mươi lăm ngàn một dĩa trong hẻm. Mày nghĩ thế là không sao à?
Ở quầy, Hảo đặt hộp tiền xuống mạnh tới mức mấy đồng xu bên trong kêu loảng xoảng. Ở bàn chặt gà, Tráng ngừng dao. Đám thợ hồ ở hai bàn giữa đã thôi nói chuyện.
Thạch đứng im. Trong đầu anh, có cả trăm câu muốn bật ra. Món này không phải của công ty. Món này của bà nội em. Anh đứng trong tấm ảnh khai trương, sát mép, hai mươi lăm tuổi, nhìn bà nội em dạy anh hun lá chuối. Anh biết. Anh biết từ đầu.
Ông Bảy nói: đừng giải thích. Nói dư là tự mở cửa cho người ta hỏi thêm.
– Cá kho thì nhà nào ở Sài Gòn cũng kho. – Anh nói. – Anh ăn xong rồi, em tính tiền.
Long nhìn anh, lâu hơn một chút. Rồi anh ta bật cười, lần này to hơn, như thật sự thấy vui.
– Được. Được đấy. – Anh ta gật đầu. – Học được cách ngậm miệng rồi. Tốt.
Anh ta xoay cái điện thoại trên bàn, lật ngửa lên, nhìn giờ, rồi lại úp xuống.
– Thạch. Ngồi đi. Anh nói chuyện này năm phút thôi.
Thạch không ngồi.
– Thôi được, đứng cũng được. – Long ngả người ra ghế. – Chị Lan sắp mở chuỗi Mộc Lan Cơm Nhà. Cơm bình dân cao cấp. Bếp trung tâm, cửa hàng nhỏ, giá rẻ, sạch, có máy lạnh. Kế hoạch mười cửa hàng trong năm nay. Chị cần một người làm bếp phó phụ trách chuỗi. Người biết nấu cơm nhà, biết đứng bếp nhà hàng, biết kiểm soát chất lượng.
Anh ta nhìn quanh quán, nhìn mấy khay thức ăn trong tủ kính, nhìn tấm bảng thực đơn viết tay của Nguyên.
– Anh nghĩ tới mày.
Thạch không nói gì. Long tiếp tục, giọng đều như đọc một bản hợp đồng đã soạn sẵn.
– Lương gấp rưỡi lương cũ. Món nợ ba trăm tám mươi sáu triệu, chị Lan xóa hết. Mày không phải trả đồng nào nữa. – Anh ta dừng lại, để con số có thời gian rơi xuống. – Đổi lại, mày ký một bản tường trình. Mày viết lại đúng những gì đã xảy ra tối mùng bảy tháng Ba: mày pha chén xốt bàn bảy, mày bất cẩn, mày nhận trách nhiệm. Thế thôi.
– Tường trình để làm gì?
– Để hồ sơ bảo hiểm của công ty khép lại. – Long nói. – Và để ông Hòa biết rằng sự cố đã được xác định nguyên nhân, người gây ra đã nhận lỗi, công ty đã xử lý xong. Ông Hòa là nhà đầu tư lớn nhất của chuỗi. Ông đang dừng rót vốn. Ông chờ một lời giải thích.
Thạch nhìn anh ta. Anh nghĩ tới vòng dầu óng mỏng như vân móng tay trên mặt chén xốt. Anh nghĩ tới cái thùng nhựa trắng hai mươi lít biến mất trong đêm. Anh nghĩ tới Ngà ngồi trên xe máy, mắt đỏ, hai tay siết tay lái tới trắng bệch: hai giờ sáng đêm đó, anh Long kêu em đổ cái thùng xốt trắng xuống cống.
– Em không ký.
– Mày nghĩ kỹ chưa?
– Em không làm sai. Em không ký.
Long im lặng một lúc. Anh ta nhìn Thạch, rồi nhìn Tráng, nhìn Hảo, nhìn đám thợ hồ đang giả vờ cắm cúi ăn. Rồi anh ta mở ví, rút ra một tờ một trăm ngàn, đặt lên bàn, chặn dưới cái tộ.
– Thối lại cho cô kia làm tiền tip. – Anh ta nói, hất cằm về phía Hảo. Rồi anh ta đứng dậy.
Ra tới cửa, anh ta dừng lại. Ba Thạch vẫn ngồi đó, ở bậc thềm, chặn gần hết lối ra.
Long nhìn xuống người đàn ông ngồi dưới chân mình. Lúc đầu, cái nhìn chỉ là cái nhìn của một người phải bước qua một người khác. Rồi nó dừng lại. Thạch đứng trong quán, thấy rõ cái khoảnh khắc ấy: mắt Long hẹp lại, như người cố nhớ một khuôn mặt cũ trong một tấm ảnh bị mờ.
– Anh Hiển? – Long nói. – Anh Hiển, con bà Hai phải không?
Ba Thạch ngẩng lên. Ông không đứng dậy.
– Mày là thằng nào?
– Em là Long. Hồi xưa… – Long ngừng lại, như vừa nhận ra mình đang nói dư. – Hồi xưa em có gặp anh vài lần. Anh tới đón bà Hai ở cổng sau.
Ba nhìn anh ta. Một lúc lâu.
– Tao nhớ rồi. – Ba nói. – Thằng phụ bếp đứng cạnh má tao ở lò than.
Long không trả lời. Anh ta nhìn ba, rồi quay đầu nhìn vào trong, nhìn thẳng vào Thạch. Lần này anh ta không cười.
– Mộc Lan Cơm Nhà sẽ mở cửa hàng đầu tiên ở đầu hẻm này. – Anh ta nói. – Chị Lan chọn chỗ rồi. Căn góc cạnh cây điệp.
Anh ta bước qua người ba, ra khỏi quán. Đôi giày da đen bóng nện xuống mặt hẻm còn ướt mưa hôm qua, xa dần, quẹo khuất ở khúc cua thứ nhất.
Không ai nói gì một lúc lâu. Rồi anh Lượm, thợ hồ, đứng dậy, đặt ba mươi lăm ngàn lên quầy, nói to bằng giọng Thanh Hóa:
– Cái thằng cha đấy ăn cơm mà nói như đi đòi nợ. Hôm sau tao dẫn thêm đội về đây ăn, chị Hảo ạ.
Hảo cười, nhưng mắt chị nhìn Thạch.
Tối đó, Thạch ngồi với ba ở bậc thềm. Lần đầu tiên từ khi ba về, hai cha con ngồi cạnh nhau mà không ai đứng dậy bỏ đi trước.
– Ba biết anh Long?
– Biết mặt. – Ba nói. – Năm đó tao ba mươi ba tuổi. Má đi dạy bếp ba tháng, chiều nào tao cũng chạy xe máy tới cổng sau chở má về. Thằng đó là đứa nhỏ nhất trong bếp. Má thương nó. Má nói nó ở quê lên, không ai dạy, má dạy.
– Bà dạy anh Long kho cá?
– Má dạy cả bếp. – Ba hút thuốc. – Mà thằng đó đứng gần má nhất.
Thạch ngồi im. Anh nghĩ tới sáu năm làm dưới tay Long. Sáu năm Long gọi anh là "thằng cháu bà bán cơm hẻm". Sáu năm Long cười khẩy mỗi lần anh gõ đũa ba cái lên tộ. Anh đã nghĩ đó là thói của một bếp trưởng khó tính. Giờ anh không biết nghĩ gì.
Anh ta biết. Long biết từ ngày đầu anh bước vào bếp Mộc Lan Đài rằng anh là cháu bà Hai. Anh ta biết món cá kho là của ai. Và anh ta chưa từng nói một lời.
– Ba. – Anh nói. – Cái lò than…
– Cửa gió kẹt. – Ba cắt ngang. – Tao sửa. Hết chuyện.
Hôm sau, thứ Năm mười bốn, Thạch kho cá cho bà Năm lần thứ năm. Lá chuối tươi hơ lửa lót đáy, nước mắm nhĩ, đường thốt nốt, đếm từng giây khi thắng nước màu. Bà Năm ăn hai miếng, rồi lại thêm một miếng thứ ba. Bà gật đầu, rất nhẹ.
– Gần hơn chút. – Bà nói. – Mà vẫn là cá kho trên bếp ga.
Anh không hiểu câu ấy. Anh mang nó về, đặt nó cạnh hai chữ "lá chuối" của ông Bảy và chữ "thiếu" của ba, như ba miếng ghép không khớp vào nhau.
Chủ nhật mười bảy, ba đi. Ông dậy lúc bốn giờ, xách ba lô ra đầu hẻm, nơi chiếc xe tải đậu cả tuần. Ông không chào ai. Khi Thạch xuống nhà lúc năm giờ, ba đã đi rồi.
Ở góc sân sau, cạnh cái lò than, có một bao tải nhựa mới, cột miệng bằng dây chuối. Thạch mở ra. Bên trong là than đước, loại than cứng, đen bóng, gõ vào nhau kêu leng keng như sứ, người miền Tây hay dùng để kho, để nướng. Có lẽ ba mua ở một vựa than nào đó trên đường từ Quy Nhơn vào. Có lẽ ông đã chở nó trong cabin xe tải suốt một tuần mà không nói với ai.
Thứ Tư hai mươi, Thạch chuyển khoản mười lăm triệu cho công ty Mộc Lan Đài. Kỳ thứ hai. Lần này anh không phải rút sổ tiết kiệm. Tiền trong két đủ, vừa đủ, theo bảng tính của Hảo dư ra bốn trăm hai mươi ngàn.
Cũng thứ Tư hai mươi, ở đầu hẻm, căn nhà góc cạnh cây điệp vàng, căn nhà hai tầng trước đây là tiệm tạp hóa của ông Sáu Lùn đã đóng cửa từ Tết, có một đội thợ tới. Họ dựng giàn giáo bằng tre, căng một tấm bạt xanh che mặt tiền. Họ đục bỏ bức tường gạch cũ. Họ chở tới mấy cái máy lạnh còn nguyên thùng.
Bà Tám Ròm bán cà phê dưới gốc điệp, ngay sát chân giàn giáo, ngồi nhìn cả buổi sáng. Tới trưa, bà đi vào hẻm, đứng trước cửa quán cơm bà Hai.
– Thạch ơi. – Bà nói, giọng the thé. – Mấy thằng thợ nói tháng sau mở quán cơm. Quán cơm có máy lạnh. Cơm hai mươi chín ngàn một dĩa.
— Hết chương 11 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe