Chương 25: Lửa trong hẻm
– Vì mày gõ đũa. – Ông Bảy nói.
Thạch đứng ở sân sau, tay còn cầm lá chuối khô. Ông Bảy vẫn quay lưng về phía anh, nhìn vào bếp.
– Năm hai ngàn hai mươi hai. – Ông nói. – Một buổi chiều, ông Phiệt tới hẻm này. Chưa bị tai biến, còn đi được, chống cây gậy. Ổng ngồi cái bàn trong cùng với bà mày, nói chuyện cả tiếng. Tao ngồi ngoài gốc điệp thấy. Ổng về rồi, bà mày đi ra, ngồi xuống cái ghế nhựa bên cạnh tao. Bà nói: "Ổng xuống bếp coi, nghe thằng Thạch gõ đũa lên tộ. Ổng hỏi thằng Long thằng nhỏ là ai. Rồi ổng tới đây hỏi tui."
Ông im một lúc.
– Bà nói thêm: "Ổng nói ổng cho thằng Thạch đi Nhật. Ổng nói thằng nhỏ có cái lưỡi." – Ông Bảy quay lại, nhìn Thạch. – Tao biết có vậy. Bà không nói gì thêm. Tao không hỏi.
Rồi ông đi vào bếp, đứng ở góc quen, nói với Tráng: "Lửa lớn quá." Như chưa từng nói gì khác.
Thạch đứng lại ở sân sau rất lâu. Anh nhớ ra một buổi chiều mùa hè năm hai ngàn hai mươi hai, trong bếp Mộc Lan Đài. Có một ông già chống gậy đi vào từ cửa sau, đứng ở góc bếp nóng mười phút, nhìn mọi người làm việc, rồi đi ra. Cả bếp im phăng phắc. Long đi theo ông ra tận cổng. Anh đã không biết đó là ông chủ cũ. Anh chỉ nhớ hôm đó anh gõ đũa ba cái lên tộ như mọi ngày, và Long không cười khẩy như mọi ngày.
Một tháng sau, phòng nhân sự gọi anh lên ký hợp đồng đi học ở Osaka.
Đêm thứ Bảy, mùng ba tháng Mười, mười một giờ bốn mươi, hẻm Cây Điệp có mùi khét.
Không phải mùi than đước của lò than nhà số bốn mươi bảy. Mùi nhựa cháy, mùi dây điện, cay xè trong cổ họng. Thạch đang ngủ trên lầu, mở mắt ra vì cái mùi trước khi nghe tiếng người la.
– Cháy! Cháy nhà! Khúc ba!
Anh chạy xuống. Ngoài hẻm, người ta đã đổ ra hết, áo ngủ, quần đùi, dép lê, có người ôm con nít, có người ôm cái tivi. Ở khúc quẹo thứ ba có căn nhà ba tầng cho thuê trọ của một ông chủ ở xa. Lửa đã trùm lên tầng hai, ánh đỏ hắt lên những mái tôn xung quanh như bình minh mọc lộn chỗ. Khói đen cuộn lên trời, che hết đèn đường.
Căn nhà trọ có năm phòng, năm gia đình. Sát vách là nhà ông Tư mù.
Thạch chạy về nhà, việc đầu tiên anh làm là khóa van hai bình ga trong bếp, tháo dây, khiêng cả hai bình ra sân sau, xa khỏi vách tường giáp hẻm. Việc thứ hai anh làm là chạy qua khúc quẹo thứ hai, gõ cửa nhà bà Năm. Bà đã ngồi dậy, khoác áo bà ba, chống gậy đứng ở hiên.
– Bà ở yên đây, gió thổi ngược về phía khúc ba, bên này không sao. – Anh nói. – Con đi coi ông Tư.
Ông Tư mù sống một mình. Anh biết vì Nguyên giao cơm tháng cho ông mỗi trưa.
Khi anh tới khúc quẹo thứ ba, khói đã tràn qua mái nhà ông Tư. Người ta đứng la, có người cầm bình chữa cháy mini phun vào cửa sổ nhà trọ, có người hắt nước bằng xô. Nhà ông Tư cửa đóng.
Một bóng người cao, vai rộng, chạy ngược dòng người, áo thun xám rộng thùng thình. Tráng. Thạch không biết anh tới lúc nào. Nhà chị Thắm cách đây sáu cây số. Sau này Tráng mới kể, tối đó anh ngủ lại quán để sáng chủ nhật tập sớm cho bán kết, nằm trên mấy cái ghế ghép trong gian trước.
Tráng không gõ cửa. Anh đạp. Cánh cửa gỗ cũ bật ra. Khói trắng ùa ra theo. Tráng kéo cổ áo thun lên che mũi, cúi người chui vào.
Thạch đứng ở ngoài, đếm. Mười giây. Hai mươi giây. Ba mươi giây.
Tráng chui ra, trên lưng là ông Tư, gầy như một bó củi, hai tay bám chặt cổ Tráng, chân trần, cái áo ngủ sọc xanh. Ông ho sặc sụa. Ông vừa ho vừa nói:
– Cái ống tre! Cái ống tre trên bàn thờ!
– Không lấy được ông ơi. – Tráng nói, thở hổn hển, đặt ông xuống bậc thềm nhà đối diện.
– Tiền cơm tháng của tui trong đó!
Hảo đã có mặt từ lúc nào, ôm Khế ngủ gục trên vai. Chị ngồi xuống cạnh ông Tư, nắm bàn tay gầy của ông.
– Ông Tư, tiền cơm tháng ông đóng rồi. Ông khỏi đóng nữa. Tui ghi sổ rồi. Ông khỏi lo.
Ông Tư nắm tay chị, ho, rồi khóc.
Xe chữa cháy tới sau mười hai phút, nhưng không vào được. Khúc quẹo thứ nhất quá hẹp. Lính cứu hỏa kéo vòi từ đường lớn, qua cây điệp, qua khúc quẹo thứ nhất, khúc quẹo thứ hai, người trong hẻm xúm vào khiêng vòi giúp. Mười hai giờ hai mươi, lửa tắt. Tầng hai và tầng ba căn nhà trọ cháy rụi. Mái nhà ông Tư sập một nửa. Không ai chết. Một người đàn ông ở phòng trọ tầng ba bị bỏng ở cánh tay, được chở đi bệnh viện.
Hai giờ sáng, cả hẻm vẫn chưa ai ngủ. Điện lực đã cắt điện toàn hẻm để kiểm tra đường dây. Sáu gia đình, hai mươi bảy người, kể cả ông Tư, ngồi đứng lố nhố ở khúc quẹo thứ hai, ôm những gì họ chạy ra kịp.
Thạch đứng nhìn họ. Rồi anh quay vào nhà, ra sân sau, mở cửa gió lò than.
– Nấu gì giờ này? – Hảo hỏi, theo anh vào.
– Cháo. – Anh nói. – Không có điện, nồi cơm điện không chạy. Ga thì để ở sân, xa vách. Lò than thì nấu được.
Hảo đặt Khế nằm trên mấy cái ghế ghép trong gian trước, chỗ Tráng nằm lúc tối. Chị xắn tay áo.
Ba giờ sáng, nồi cháo thịt bằm gừng đầu tiên chín trên lò than. Tráng múc ra từng tô, Hảo bưng ra hẻm, đưa tới tay từng người. Người đàn ông phòng trọ tầng một, đang ôm hai đứa con, cầm tô cháo, nhìn Hảo như không hiểu.
– Bao nhiêu tiền chị?
– Không có tiền. – Hảo nói. – Ăn đi. Mai tính.
Ba ngày sau đó, quán cơm bà Hai không bán cơm.
Chủ nhật quán nghỉ sẵn. Thứ Hai và thứ Ba, Thạch dán một tờ giấy lên cửa: "Hai ngày nay quán nấu cho bà con khúc ba. Xin lỗi khách quen." Điện chưa có lại tới trưa thứ Hai. Nồi cơm điện công nghiệp mười lít nằm im. Họ nấu cơm bằng nồi gang trên lò than, như Tráng từng nấu cho tám trăm người trong trại những ngày cúp điện. Ngà ra chợ Bàn Cờ với Hảo, mua thịt, cá, rau bằng tiền trong két. Nguyên lập danh sách sáu gia đình, ai ăn được gì, ai kiêng gì, đứa nhỏ nào còn bú sữa, người già nào răng yếu.
Không ai nói ra, nhưng ai cũng biết chưa đầy hai tuần nữa là bán kết, và đội đang mất ba ngày tập.
Anh Lượm dẫn đội thợ hồ từ công trình cuối hẻm tới chiều chủ nhật, mười tám người, mang theo xẻng, xà beng, bạt nhựa. Họ dọn đống gạch đổ ở khúc ba, căng bạt che mái nhà ông Tư. Bà Tám Ròm nấu ba ấm trà đá to, không lấy tiền. Cô Lài từ Thủ Đức chạy xe xuống, chở theo một bao quần áo cũ cô gom ở tiệm may.
Trưa thứ Hai, khi Thạch đang nướng tỏi trên lò than, có người đứng ở cửa sân sau.
Anh đang làm cái việc anh đã định làm từ hồi tháng Tư mà chưa làm. Mấy củ tỏi tím nguyên vỏ đặt thẳng lên than đước, lật mỗi khi mặt dưới cháy sém. Vỏ tỏi đen dần, phồng lên, nứt ra, hơi tỏi xèo xèo thoát qua chỗ nứt, mùi thơm và mùi khét quyện vào nhau. Anh không định làm cho ai. Tối qua, khi phát cơm cho mấy gia đình, ông Tư hỏi: "Có nước mắm không con?" và anh đưa ông chén nước mắm ớt thường. Ông Tư chấm, rồi nói: "Hồi bà Hai, nước mắm có mùi khói." Sáng nay anh dậy sớm, nhóm lò, nướng tỏi.
Anh gắp mấy củ tỏi ra, để nguội, lột lớp vỏ cháy, bên trong tép tỏi chín mềm, vàng nâu, ngọt. Anh giã tỏi nướng với ớt, đường, vắt chanh, pha nước mắm.
– Thơm thơm khét khét.
Giọng chị Thùy. Chị đứng ở cửa sân sau, áo sơ mi xanh nhạt, đeo thẻ cán bộ phường, tay cầm một cái bìa hồ sơ. Chị đã ở hẻm từ sáng sớm, cùng tổ dân phố lập danh sách thiệt hại, sắp xếp chỗ ở tạm cho mấy gia đình ở nhà văn hóa khu phố.
– Chị Thùy.
– Chị ngửi từ ngoài hẻm. – Chị nói, bước vào. – Tỏi nướng than.
Thạch không nói gì. Anh lấy một cái chén nhỏ, rót chút nước mắm vừa pha, gắp một miếng thịt kho trong nồi ra, đưa cho chị.
Chị Thùy chấm miếng thịt vào nước mắm, đưa lên miệng. Chị đứng yên. Rồi chị nhắm mắt lại.
– Đúng rồi. – Chị nói, giọng khác hẳn giọng làm việc. – Đúng cái mùi đó. Mười hai tuổi, chị ăn cơm ở cái bàn sát cửa, bà Hai đặt chén nước mắm này trước mặt chị.
Chị mở mắt ra, cười, rồi nhanh chóng lấy lại vẻ cán bộ, lật cái bìa hồ sơ.
– Phường đang tổng hợp. Sáu hộ, hai mươi bảy người. Ủy ban có hỗ trợ khẩn cấp, mấy hội đoàn đang quyên góp. – Chị nói. – Phường ghi nhận quán em nấu ăn cho bà con ba ngày. Có một phóng viên của một tờ báo thành phố đang ở ngoài hẻm, viết bài về vụ cháy. Họ hỏi chị chuyện quán em. Chị nói đúng những gì chị thấy.
Sáng thứ Ba, bài báo được đăng. Nguyên đọc to cho cả bếp nghe. Một bài ngắn, có ảnh chụp từ phía sau: Tráng cúi người múc cháo từ nồi gang trên lò than, vết sẹo khuất trong bóng tối, chỉ thấy cái lưng và đôi tay. Tiêu đề: "Hẻm nhỏ nấu cơm cho nhau sau vụ cháy". Tên quán, tên Thạch, tên Tráng. Câu cuối của bài trích lời ông Tư mù: "Cái ống tre cháy rồi. Mà thằng có cái sẹo cõng tui ra."
Chiều thứ Ba, sáu tháng Mười, ba giờ, có một chiếc ô tô màu trắng đậu ở đường lớn, đầu hẻm.
Chị Lan đi một mình. Áo sơ mi trắng, quần tây đen, giày đế bằng, không phải giày cao gót. Chị đi qua khúc quẹo thứ nhất, khúc quẹo thứ hai, đi chậm, nhìn những tấm bạt nhựa căng trên mái nhà ông Tư, nhìn đống gạch đổ đã được thợ hồ dọn gọn vào một góc. Rồi chị đứng ở cửa quán cơm bà Hai.
Thạch đang lau bàn. Anh ngẩng lên.
Chị Lan bước vào. Chị mở túi xách, lấy ra một cái phong bì màu trắng, dày, đặt lên mặt bàn inox anh vừa lau.
– Tôi đọc báo. – Chị nói. – Ba ngày nấu cho hai mươi bảy người, tiền chợ không ít. Tôi muốn góp.
Thạch nhìn cái phong bì. Rồi anh nhìn chị.
– Chị muốn góp cho bà con thì chị Thùy bên phường đang lập danh sách, chị gửi qua phường. – Anh nói. – Còn tiền chợ ba ngày đó, hẻm nấu cho hẻm. Tôi không nhận.
Chị Lan đứng im. Cái phong bì nằm trên mặt bàn giữa hai người. Ở quầy, Hảo ngừng tay đếm tiền. Ở bàn chặt gà, Tráng ngừng dao. Ngà đang rửa nồi trong bếp, quay lưng lại, nhưng tay cô không còn động đậy.
– Anh không nhận gì của tôi, phải không? – Chị Lan nói. Giọng chị không giận. Chỉ mệt.
– Không phải chị. – Thạch nói. – Chuyện này thì không.
Chị cầm cái phong bì lên, bỏ lại vào túi xách. Chị quay ra cửa.
– Chị Lan.
Chị dừng lại.
– Chị ăn cơm chưa?
Chị quay lại nhìn anh. Lần đầu tiên, trên mặt chị có một cái gì đó không giống vẻ của người ký giấy cả ngày. Giống như người đi lạc rất lâu, vừa nghe ai gọi đúng tên mình.
– Chưa.
– Ba giờ rồi. – Thạch nói. – Quán còn thịt kho với canh chua. Chị ngồi đi.
Chị Lan đứng im một lúc. Rồi chị đặt túi xách xuống, kéo một cái ghế nhựa đỏ ở cái bàn trong cùng, ngồi xuống.
Thạch đứng ở quầy, cầm cái dĩa trên tay, nhìn chị. Cái bàn trong cùng. Ba anh nói năm hai ngàn lẻ bốn, ông Phiệt mặc áo sơ mi trắng, cười cười, ngồi ăn một tộ cá kho ở đúng cái bàn đó.
— Hết chương 25 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe