Chương 32: Xin phép một ông già
Cái tộ niềng đồng nằm trong lòng Thạch suốt đoạn đường từ hẻm Cây Điệp tới phường Tân Định, bọc trong cái khăn tắm cũ của bà. Mỗi lần xe ôm qua ổ gà, anh lại ôm chặt nó thêm một chút như ôm một đứa con nít ngủ.
Sáng thứ Bảy, bảy tháng Mười Một.
Bốn ngày trước, tối thứ Ba, anh đã nói với cả nhóm điều anh nghĩ suốt một đêm.
– Anh không nấu cá kho ba lửa ở chung kết. – Anh nói. – Trừ khi có hai người cho phép.
– Hai người nào? – Hảo hỏi.
– Người mua món đó. Và người bà nội anh nấu cho mười tám năm.
– Ông Phiệt với bà Năm.
– Dạ.
– Rồi lỡ ổng không cho? – Nguyên hỏi.
– Thì mình nấu thịt kho. – Thạch nói. – Thịt kho trứng của bà, mỡ trong như hổ phách. Bốn chục năm người ta vô quán này ăn thịt kho. Món đó cũng làm nên tên quán.
Không ai cãi. Nhưng Thạch thấy Nguyên lén nhìn cái tộ trên kệ gạch.
Nhà ông Phiệt là một căn nhà phố ba tầng cũ trong một con đường nhỏ có hàng cây sao, giàn hoa giấy màu hồng phủ kín ban công tầng hai. Chị Lan mở cửa. Chị mặc áo thun trắng, quần vải, tóc cột đuôi ngựa, Thạch suýt không nhận ra.
– Ba tôi chờ từ sáu giờ. – Chị nói. – Ông bắt chị Duyên thay áo ba lần.
Ông Phiệt ngồi trên xe lăn trong phòng khách tầng trệt, cạnh cửa sổ nhìn ra hàng cây sao. Ông mặc áo sơ mi trắng cài kín cổ, tóc chải gọn. Trên đùi ông, như mọi khi, tấm chăn mỏng màu ghi. Trên cái bàn nhỏ bên cạnh là chồng giấy chữ "Quế".
Thạch ngồi xuống cái ghế chị Lan kê sẵn trước xe lăn, ngang tầm mắt ông. Anh đặt cái tộ lên đùi mình, mở cái khăn tắm.
Ông Phiệt nhìn cái tộ. Đai đồng xỉn màu. Vết búa trên mép. Hai cái đinh tán nhỏ. Chỗ mẻ to bằng đốt ngón tay. Ông đưa bàn tay trái ra, run run. Thạch nâng cái tộ lên cho ông chạm. Ngón tay ông lần theo cái đai đồng, từ đinh tán này sang đinh tán kia, chậm, như người mù đọc chữ nổi.
– Ông Phiệt. – Thạch nói. – Con tới xin phép ông một chuyện.
Ông Phiệt ngẩng lên nhìn anh.
– Chung kết cuộc thi, đề bài là "món làm nên tên một quán ăn". – Anh nói. – Con muốn nấu cá kho của bà nội con. Nấu công khai. Đứng trước người ta nói đây là món của bà Quế. Mà bà nội con đã bán món này cho ông năm hai ngàn lẻ bốn. Bà hứa với ông không bán nữa, không nói với ai món này của bà. Bà giữ lời hai mươi năm. Con không muốn là người làm bà mất lời.
Anh dừng lại.
– Ông không cho thì con nấu món khác. Con không giận.
Ông Phiệt nhìn anh rất lâu. Ngoài cửa sổ, một con chim sẻ đáp xuống cành sao, rồi bay đi.
Rồi ông quờ tay trái trên tay vịn. Chị Duyên đặt vào tay ông cây bút và một tờ giấy trắng. Ông cúi xuống viết. Lâu. Nét bút đi lệch, quay lại, đi lệch, quay lại. Chị Lan đứng sau xe lăn, hai tay đặt trên vai cha, không nhìn tờ giấy mà nhìn ra cửa sổ.
Ông viết xong, đặt bút xuống, xoay tờ giấy về phía Thạch.
"Của bà Quế. Không phải của tôi."
Bên dưới, nét chữ nhỏ hơn, run hơn:
"Tôi mua lời hứa. Không mua được món."
Thạch đọc hai dòng đó. Rồi đọc lại. Anh không nói được gì.
Ông Phiệt chỉ tay vào cái tộ trên đùi Thạch. Rồi ông giơ ba ngón tay trái lên. Chậm. Một. Hai. Ba.
Thạch hiểu. Anh rút đôi đũa tre trong túi áo, đôi đũa anh mang theo mà không biết vì sao mang. Anh cầm cái tộ rỗng lên, gõ ba cái lên cái đai đồng.
Keng. Keng. Keng.
Tiếng gõ trong cái phòng khách yên tĩnh vang lên khác hẳn tiếng gõ trong bếp. Không có máy hút khói, không có tiếng dầu sôi, không có tiếng người gọi món. Chỉ có ba tiếng kim loại mỏng, trong, ngân rất lâu rồi mới tắt.
Nửa mặt bên trái của ông Phiệt nhích lên. Ông cười. Thạch chưa từng thấy ông cười ngoài bức chân dung áo dài the treo ở phòng họp tầng hai. Nụ cười lệch, nửa bên kia mặt không theo được, nhưng đôi mắt cười đủ cho cả hai bên.
Khi Thạch về, chị Lan tiễn anh ra tận đầu con đường có hàng cây sao.
– Ba tôi chưa từng viết được hai dòng liền như vậy từ sau cơn tai biến. – Chị nói. – Chị Duyên nói vậy.
– Dạ.
– Anh Thạch. – Chị dừng lại dưới gốc sao. – Ngày chung kết, tôi tới. Không phải với tư cách nhà tài trợ. Tôi đứng ở hàng khán giả. Tôi muốn nghe anh nói món đó của ai.
Chiều thứ Bảy, Thạch sang nhà số năm mươi hai, mang theo tờ giấy của ông Phiệt.
Bà Năm đọc tờ giấy bằng cái mắt sắc bên phải, đưa xa, đưa gần, rồi đặt xuống mâm nhôm. Bà ngồi im, quạt cây quạt nan, nhìn lên cái đồng hồ quả lắc dừng ở bốn giờ mười lăm.
– Ổng viết vậy.
– Dạ.
– "Tôi mua lời hứa. Không mua được món." – Bà đọc lại, chậm, như đọc một câu thơ. – Chị Hai mà nghe câu này, chỉ cười.
Bà quạt thêm mấy cái.
– Chị Hai hứa với ổng. Ổng thả rồi thì chị Hai cũng thả. – Bà nói. – Con nấu đi.
– Dạ. Con còn xin bà.
– Xin cái gì?
– Bà nội con nấu món này cho bà. Mười tám năm, thứ Năm nào cũng nấu. Món này cũng là của bà.
Bà Năm nhìn anh. Cái mắt sắc bên phải đỏ lên.
– Tao chỉ xin một chuyện. – Bà nói. – Con đi thi, con nấu cho ai thì nấu. Mà thứ Năm vẫn là của tao. Bốn giờ chiều. Tao không ăn chung với ban giám khảo.
– Dạ. – Thạch nói. – Thứ Năm vẫn là của bà.
Hai tuần còn lại là hai tuần của những thứ cụ thể.
Vấn đề đầu tiên là cái lò. Lò than của bà xây bằng gạch thẻ, không khiêng đi được. Ban tổ chức cho mỗi đội một khu bếp ngoài trời dưới mái tôn trong khuôn viên trường dạy nghề, có một bếp ga, một bếp than tổ ong, được mang thêm dụng cụ riêng. Không có lò nào đủ sâu để vùi một cái tộ trong tro qua đêm.
Tráng giải quyết nó trong ba ngày. Anh mua ở vựa ve chai đầu đường Hòa Hảo một cái thùng phuy sắt cũ, cưa đôi theo chiều dọc bằng cái máy cắt mượn của đội thợ hồ anh Lượm. Anh lót lòng nửa thùng phuy bằng gạch thẻ xếp hai lớp, trét đất sét. Anh khoét một cái cửa gió ở thân thùng, gắn một cánh cửa sắt nhỏ có bản lề, giống y cánh cửa gió ba Thạch đã sửa trên lò của bà. Bốn cái chân sắt hàn ở đáy. Hai cái quai để khiêng.
– Trong trại, Tết nào tụi tui cũng làm lò nướng bằng thùng phuy. – Tráng nói, đứng nhìn cái lò mới ra lò. – Nướng thịt cho tám trăm người.
Họ thử lò vùi hai lần. Tối chủ nhật mùng tám, tro không đủ nóng, sáng ra cá còn sống ở giữa khúc. Tối thứ Bảy mười bốn, Tráng lót thêm một lớp gạch, Thạch cho thêm than đước, sáng ra lá chuối khô cháy sém thành một lớp mỏng, cá săn, nước kho rút sệt. Bà Năm không được ăn tộ thử đó, vì bà đã nói rõ "thứ Năm là của tao". Cả nhóm ăn. Ông Bảy ăn một miếng, gật đầu.
Vấn đề thứ hai là than. Than đước ba để lại hồi tháng Năm đã cạn gần hết. Than chợ Bàn Cờ là than tạp, cháy nhanh, nhiều khói, không giữ được lửa riu riu hai tiếng. Thạch gọi ba. Ba đang chạy hàng ở đâu đó trên quốc lộ miền Tây.
– Than đước mua ở đâu ba?
– Mua làm chi?
– Chung kết con nấu cá kho của bà. Nấu qua đêm, ở chỗ người ta.
Đầu dây im một lúc. Tiếng xe tải gầm gừ.
– Để tao lo. – Ba nói. Rồi cúp máy.
Vấn đề thứ ba không ai giải quyết được, nên không ai nói ra: cái tộ niềng đồng đã sáu mươi năm tuổi. Thạch đoán vậy, vì bà nói hồi bà về làm dâu ở hẻm này đã có nó. Nó đã vùi tro hơn ngàn đêm. Nó có một chỗ mẻ ở miệng. Mỗi lần nhấc nó ra khỏi tro, Thạch đều xoay nó dưới ánh đèn, nhìn quanh thân, tìm một vết nứt mà anh sợ sẽ thấy.
Ông Bảy dạy anh lần cuối vào tối thứ Tư, mười tám tháng Mười Một, đêm vùi tro cho tộ cá thứ Năm của bà Năm. Ông đứng cạnh bếp, không nói gì, nhìn Thạch thắng nước màu. Khói xanh. Đếm. Khói trắng. Nước.
– Được. – Ông nói. – Từ giờ mày không cần tao nữa.
– Ông nói gì kỳ vậy ông.
– Tao nói thiệt. – Ông chắp tay sau lưng. – Thứ Sáu tao đi với tụi mày. Tao đứng ngoài coi. Mày làm.
Chiều thứ Năm, mười chín tháng Mười Một, bốn giờ, Thạch bưng tộ cá kho sang nhà số năm mươi hai, gõ đũa ba cái trước khi đặt xuống mâm. Bà Năm ăn hết một chén cơm, ăn thêm nửa chén. Bà nói:
– Mai đi thi phải không?
– Dạ. Mai năm giờ chiều.
– Ờ. – Bà nói. – Thứ Năm tuần sau nhớ về.
Chín giờ tối thứ Năm, cả nhóm đang chất đồ lên chiếc xe ba gác anh Lượm mượn được: cái lò thùng phuy, hai bao than tổ ong, xấp lá chuối khô, cái vỉ tre, nồi chảo, dao thớt. Cái tộ niềng đồng Thạch để riêng trong cái thúng tre phủ khăn, cái thúng anh tìm thấy nó dưới gầm giường bà hồi tháng Ba.
Điện thoại Thạch reo. Số lạ.
– Alo, có phải cậu Thạch quán cơm bà Hai không? – Giọng một bà già, run, gấp. – Tui là chủ nhà sáu mươi mốt. Ông Bảy té cầu thang. Ổng nằm dưới chân cầu thang không dậy được. Ổng kêu tui gọi cậu.
Thạch chạy. Tráng chạy theo sau. Khúc quẹo thứ hai, khúc quẹo thứ ba.
Cầu thang lên phòng gác nhà số sáu mươi mốt tối om, chỉ có ánh đèn từ gian dưới hắt lên. Ông Bảy nằm nghiêng ở chân cầu thang, một chân co, một chân duỗi lệch đi một góc không bình thường. Áo sơ mi trắng cài kín cổ. Cái đèn pin nhỏ bằng nhôm trầy sơn lăn ra cách tay ông một gang.
Thạch quỳ xuống.
– Ông Bảy.
– Bậc thứ bảy. – Ông nói, giọng khàn, đứt quãng, mồ hôi vã ra trên trán. – Mười mấy năm tao bước qua nó. Tối nay tao quên.
– Ông đừng nói. Con gọi xe cấp cứu.
Tráng đã bấm số. Ông Bảy nắm lấy cổ tay Thạch. Bàn tay gầy, lốm đốm đồi mồi, nóng hổi, siết chặt hơn Thạch tưởng một ông già bảy mươi tư tuổi có thể siết.
– Thạch. – Ông nói. Lần thứ hai ông gọi tên anh. – Mai tao không đi được.
— Hết chương 32 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe