Chương 26: Bếp sáu mươi người
Chị Lan ăn thịt kho như người lâu lắm rồi không ăn thịt kho: gắp miếng mỡ trước, cắn một nửa, rồi mới ăn phần nạc.
Thạch đặt thêm một chén nước mắm tỏi nướng cạnh dĩa cơm của chị, rồi đứng ở quầy, không ngồi. Hảo đã kiếm cớ ra đầu hẻm. Tráng ra sân sau. Ngà vẫn đứng trong bếp, quay lưng, không dám ra.
– Ngon. – Chị Lan nói, khi đã ăn được nửa dĩa. Giọng chị như một nhận xét trong biên bản, nhưng chị nói thêm: – Hồi nhỏ, chị giúp việc nhà tôi người Bến Tre. Bả kho thịt y vầy. Mỡ trong.
– Mỡ phải kho tới khi trong như hổ phách. – Thạch nói. – Mấy bà già trong hẻm dạy tôi.
Chị Lan gật đầu. Chị nhìn quanh quán: mấy cái bàn inox, chồng ghế nhựa đỏ, tấm bảng trắng ghi thực đơn của Nguyên, cái lò than ngoài sân sau còn tỏa một làn khói mỏng.
– Cái bàn chị đang ngồi. – Thạch nói. – Ba tôi kể năm hai ngàn lẻ bốn, ông Phiệt tới quán này, ngồi đúng cái bàn đó, ăn một tộ cá kho của bà nội tôi. Một tháng sau bà đi dạy bếp cho Mộc Lan Đài.
Chị Lan đặt đũa xuống. Chị nhìn mặt bàn inox, nhìn như tìm một dấu vết gì đó mà hai mươi hai năm đã xóa hết.
– Năm đó tôi hai mươi ba tuổi. – Chị nói. – Tôi đi học ở Singapore. Tôi về dự khai trương. Tôi nhớ trong bếp có một bà cụ người nhỏ thó, mặc áo bà ba tím, đứng cạnh ba tôi trong lúc chụp ảnh. Tôi tưởng bà là người giúp việc. – Chị dừng lại. – Ba tôi chưa từng nói món cá kho đó mua của ai. Hai mươi hai năm. Ai hỏi, ông chỉ nói "món của Mộc Lan".
– Bà tôi cũng chưa từng nói. – Thạch nói. – Hai mươi năm. Bà chỉ nấu cho bà Năm bên kia hẻm, mỗi thứ Năm.
Chị Lan nhìn anh. Rồi chị kể, chậm, như người kể một chuyện mình chưa biết xếp vào đâu. Từ hôm đi lạc tới hẻm Cây Điệp, ông Phiệt viết chữ "Quế" lên mọi tờ giấy ông cầm được. Lên tờ đơn thuốc. Lên tờ lịch. Lên lề cuốn sách chị Duyên đọc cho ông nghe mỗi tối. Ông không viết gì khác.
– Tôi hỏi ông bà Quế là ai, ông chỉ tay ra cửa. – Chị Lan nói. – Tôi nghĩ ông muốn quay lại đây. Tôi chưa dám đưa ông đi.
Chị ăn hết dĩa cơm. Khi trả tiền, chị đặt ba mươi lăm ngàn lên quầy, rồi đứng lại, tay còn đặt trên tờ tiền.
– Anh Thạch. – Chị nói, giọng hạ xuống. – Tôi đã gửi mẫu xốt nền đang dùng ở nhà hàng đi kiểm. Không phải trung tâm của bạn anh. Một trung tâm khác. Tôi tự lấy mẫu từ thùng mới giao, có người của trung tâm tới niêm phong tại chỗ. Chừng hai tuần nữa có kết quả.
Thạch nhìn chị. Anh không nói gì.
– Tôi không hứa gì với anh. – Chị nói. – Tôi chỉ muốn biết.
Chị đi ra. Đôi giày đế bằng không gõ xuống mặt hẻm thành tiếng như hôm tháng Tám.
Mười một ngày tập, gói lại thành tám ngày, vì mất ba ngày nấu cho bà con khúc ba.
Đề bán kết: nấu bữa trưa cho sáu mươi người trong một bếp cộng đồng, ngân sách ba triệu đồng, bốn tiếng từ lúc nhận bếp tới lúc dọn cơm. Sáu mươi người ăn là người thật, ngồi ăn thật, và mỗi người chấm một lá phiếu từ một tới năm điểm. Phiếu của người ăn tính một nửa số điểm, năm giám khảo tính nửa kia. Sáu đội, lấy ba.
Thạch lên thực đơn. Cơm trắng. Canh chua cá basa bông súng, vì cá lóc cho sáu mươi người là vỡ ngân sách. Thịt ba chỉ kho trứng cút. Đậu hũ nhồi thịt sốt cà. Rau muống luộc chấm nước mắm tỏi nướng. Chè đậu xanh phổ tai tráng miệng, vì Hảo nói người già ăn cơm xong mà không có gì ngọt thì như chưa ăn.
– Ba triệu. – Hảo nói, gạch xóa trên tờ lịch cũ. – Sáu mươi phần. Năm chục ngàn một người. Bằng hai dĩa cơm hẻm. Đủ.
Họ tập ba lần, nấu cho đúng sáu mươi phần, đem phát cho thợ hồ của anh Lượm, cho sáu gia đình khúc ba đang ở tạm nhà văn hóa, cho ông Tư mù mái nhà vừa lợp lại. Lần đầu quá giờ hai mươi phút. Lần thứ hai canh thiếu chua. Lần thứ ba, ông Bảy đứng ở góc bếp từ đầu tới cuối, không nói một chữ. Khi xong, ông gật đầu.
Thứ Bảy, mười bảy tháng Mười.
Bếp cộng đồng là gian bếp ăn của một mái ấm nuôi người già neo đơn ở phía nam thành phố, rộng, trần cao, quạt trần to như cánh máy bay. Sáu đội chia sáu góc bếp. Mỗi góc có một bàn sơ chế, hai họng bếp ga công nghiệp, một bồn rửa, hai bình ga do nhà tài trợ cung cấp. Ngoài sân và trong hội trường, sáu khu bàn ăn, mỗi khu sáu mươi chỗ, mỗi đội nấu cho một khu. Ba trăm sáu mươi người ăn: các cụ trong mái ấm, mấy mái ấm lân cận, công nhân, người bán vé số được phường mời tới.
Chị Lan có mặt, ngồi ở hàng ghế khách mời của nhà tài trợ. Long đứng ở bàn giám khảo, áo bếp đen thêu chỉ vàng, nói chuyện với người của ban tổ chức về chuyện hậu cần. Nguyên nghe lỏm được: phần ga, nước đá, bàn ghế cho bán kết do nhà tài trợ Mộc Lan Đài lo, và người ký nhận phiếu giao hàng là bếp trưởng Diệp Khánh Long.
Chín giờ, còi thổi.
Tráng sơ chế cá, mười hai con basa, mỗi con bốn khúc, đầu nấu canh. Ngà cuốn chả, nặn đậu hũ nhồi thịt, hai tay đi như hai cái máy. Theo thể lệ, đội vẫn là bốn người có tên trên đơn, nhưng mỗi đội được mang thêm một người phụ việc không đứng bếp chính. Ngà mặc áo thun trắng không in chữ, đứng ở bàn sơ chế, và Thạch thấy Long nhìn cô từ bàn giám khảo lâu hơn mức cần thiết. Hảo nấu chè. Nguyên canh hai nồi cơm gang lớn và cái đồng hồ.
Thạch thắng nước màu cho nồi thịt kho. Khói xanh. Đếm. Khói trắng. Nước.
Chín giờ năm mươi, ngọn lửa ở họng bếp bên trái, cái họng đang nấu nồi canh chua, phập phù rồi tắt.
Thạch vặn lại. Không lên. Anh cúi xuống, lắc bình ga. Nhẹ hều. Anh lắc bình thứ hai, cái bình nối với họng bên phải, nơi nồi thịt kho đang sôi. Nhẹ không kém. Anh nhấc thử. Một bình ga mười hai ký đầy nặng hơn hai mươi ký kể cả vỏ. Hai bình này nhấc lên nhẹ như hai cái vỏ không.
Ở góc bếp bên cạnh, đội sủi cảo vẫn nấu bình thường. Ở góc bên kia, đội mái ấm Hoa Sứ, mấy cô chú nấu cơm cho trẻ mồ côi ở một mái ấm ngoại thành, lửa vẫn xanh đều.
Nguyên chạy lên bàn ban tổ chức. Năm phút sau cậu chạy về, mặt đỏ.
– Họ nói bình ga dự phòng trên xe giao hàng, xe kẹt ngoài đường, chừng một tiếng nữa mới tới.
– Một tiếng. – Hảo nói. – Còn ba tiếng mười phút. Cá chưa chín, thịt mới sôi, cơm mới nấu được nửa.
Tráng đứng im một giây. Rồi anh lôi trong thùng đồ của đội ra cái bếp than tổ ong Thạch mang theo để nướng bánh tráng hồi vòng hai, hai cục than tổ ong, một cái mồi lửa.
– Một họng than. – Anh nói. – Nấu cơm trước. Cơm không chín thì cái gì cũng vô ích.
Nguyên đã mở điện thoại. Cậu không gọi ai. Cậu nhắn vào nhóm chat của hẻm Cây Điệp, nhóm có một trăm bốn mươi người do tổ dân phố lập, nơi cậu đăng thực đơn mỗi ngày. Cậu gõ nhanh, dán kèm cái địa chỉ:
"Đội quán bà Hai đang thi, bình ga hết sạch, ban tổ chức nói một tiếng nữa mới có. Ai có bình ga mười hai ký chở giúp tới địa chỉ này được không ạ. Em cảm ơn."
Hai phút sau, điện thoại cậu rung. Rồi rung liên tục.
"Anh Lượm đây. Công trình có hai bình. Đi liền."
"Bà Tám nè. Thằng Tí nhà bà chở một bình nhà bà."
"Ông Tư mù nè, thằng cháu bà Sáu bấm giùm. Ông không có bình ga, ông cảm ơn tụi nhỏ."
Trong khi chờ, họ nấu bằng một họng than. Tráng canh nồi cơm gang trên bếp than tổ ong, mở nắp nghe tiếng nước reo. Hảo dời nồi chè sang một bên, chè có thể nấu sau. Thạch nhìn nồi thịt kho đã sôi được mười phút, nhấc ra, đậy nắp, quấn khăn quanh nồi để giữ nhiệt. Thịt sẽ tự rút nước trong hơi nóng của chính nó, như ông Bảy từng bảo, "lửa tắt mà nồi còn nóng thì món vẫn chín".
Ở hàng ghế khách mời, chị Lan đã đứng dậy. Chị đi về phía bàn ban tổ chức, nói gì đó với người phụ trách hậu cần. Người đó chỉ tay về phía Long. Chị Lan nhìn Long. Long đang cúi xuống bảng điểm, không ngẩng lên.
Mười giờ ba mươi lăm, có tiếng xe máy rồ ngoài cổng mái ấm.
Anh Lượm, áo bảo hộ còn dính xi măng, ngồi sau một anh thợ hồ khác, mỗi người ôm một bình ga mười hai ký trên đùi như ôm con. Phía sau, thằng Tí cháu nội bà Tám Ròm, mười bảy tuổi, chở một bình buộc dây thun sau yên. Bảo vệ mái ấm không biết có cho vào không, đứng chặn ở cổng. Anh Lượm nói to bằng giọng Thanh Hóa, đủ cho cả sân nghe:
– Ga cho đội quán bà Hai đây! Bà con hẻm Cây Điệp gửi!
Mấy cụ già ngồi chờ ăn ở khu bàn ngoài sân quay đầu lại nhìn. Một cụ vỗ tay. Rồi cả dãy vỗ tay.
Ban tổ chức cho phép. Tráng chạy ra cổng, khiêng hai bình vào cùng anh Lượm, tháo bình rỗng, lắp bình mới, siết van, thử bằng nước xà phòng như anh đã làm hàng trăm lần ở bếp trại. Lửa lên. Xanh. Đều.
Một giờ dọn cơm. Đội quán cơm bà Hai dọn cơm lúc mười hai giờ năm mươi hai phút.
Sáu mươi người ăn. Thạch đứng ở cửa bếp, nhìn ra khu bàn của đội mình. Một cụ bà ngồi đầu dãy thứ ba chan nước kho vào chén cơm, rồi chấm rau muống vào nước mắm tỏi nướng, rồi dừng lại. Bà chấm thêm một lần nữa, rồi quay sang nói gì đó với cụ bà ngồi cạnh. Anh không nghe được. Anh thấy cụ bà ngồi cạnh cũng chấm rau vào chén nước mắm.
Bà nghiên cứu ẩm thực nếm canh chua, rồi nếm thịt kho, rồi hỏi Thạch thịt kho mất lửa giữa chừng mà sao vẫn mềm. Anh nói về cái khăn quấn quanh nồi. Bà ghi gì đó, gạch dưới.
Long nếm cuối cùng, như mọi vòng. Anh ta nếm canh, nếm thịt, nếm đậu hũ. Anh ta không nói gì. Anh ta ghi điểm, rồi đi qua bàn tiếp theo, không nhìn Thạch.
Bốn giờ chiều, kết quả. Phiếu của người ăn: đội quán cơm bà Hai được bốn phẩy bảy trên năm, cao nhất trong sáu đội. Điểm giám khảo: thứ ba. Tổng: thứ hai. Đội sủi cảo nhà họ Lư nhất. Đội mái ấm Hoa Sứ thứ ba.
Ba đội vào chung kết, thứ Bảy, hai mươi mốt tháng Mười Một.
Nguyên đọc bảng điểm chi tiết, rồi ngẩng lên.
– Anh Long cho mình bảy.
– Lên một điểm nữa. – Hảo nói. – Ổng sắp đuối rồi.
Chị Lan không ở lại tới lúc trao giấy chứng nhận vào chung kết. Chị đi lúc ba giờ. Thạch thấy chị đứng ở góc sân với người phụ trách hậu cần của ban tổ chức, cầm trong tay mấy tờ phiếu giao hàng, đọc rất lâu. Rồi chị gấp mấy tờ phiếu bỏ vào túi xách, đi ra cổng, không chào ai.
Tối thứ Hai, mười chín tháng Mười, Nguyên đang lau bàn thì điện thoại cậu báo có thông báo mới từ trang của cuộc thi. Cậu đọc, rồi đọc lại, rồi đem điện thoại vào bếp, đặt lên bàn inox trước mặt Thạch.
Thông báo ngắn. Ban tổ chức Hội thi Mâm Cơm Phố xin thông báo thay đổi thành phần hội đồng giám khảo vòng chung kết theo đề nghị của nhà tài trợ. Bếp trưởng Diệp Khánh Long không tiếp tục tham gia hội đồng giám khảo. Thay thế là bà Lý Tư Dung, chủ một quán cơm tấm bốn mươi năm ở phường Chợ Lớn.
Không có dòng nào nói lý do.
— Hết chương 26 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe