Chương 6: Con dao để chặt gà
– Tui không ăn gà thằng đó chặt.
Người nói câu ấy là một gã đàn ông ba mươi mấy tuổi, da đen, đội nón bảo hộ màu vàng, ngồi ở cái bàn giữa quán cùng năm người thợ hồ khác. Gã nói không lớn, nhưng quán cơm trưa thứ Hai đang im vì ai cũng đang ăn, nên câu ấy đi khắp quán như một tiếng chén vỡ.
Dĩa cơm gà luộc nằm trước mặt gã, chưa đụng đũa.
Anh Lượm, người thợ hồ Thanh Hóa đã thành khách quen, ngồi bên cạnh, huých vai gã.
– Mày nói cái gì đấy?
– Tao nói thật. – Gã đẩy dĩa cơm ra. – Thằng đó ở khu tao. Chánh Hưng. Cả khu biết. Nó đánh người ta gần chết, đi tù bảy năm. Giờ đứng chặt gà cho mình ăn.
Ở cửa bếp, Tráng đứng sững. Trên tay anh vẫn còn con dao chặt, lưỡi dao dính mỡ gà, ánh lên dưới đèn. Rồi anh nhìn xuống con dao, như lần đầu tiên thấy nó trong tay mình, và đặt nó xuống thớt rất nhẹ, nhẹ như sợ nó kêu.
Hảo đứng ở quầy, mặt đỏ lên.
– Anh ơi, anh không ăn thì anh đổi món, quán đổi cho anh…
– Thôi khỏi. – Gã đứng dậy, móc ví đặt ba mươi lăm ngàn xuống bàn. – Tao ăn chỗ khác.
Gã đi ra. Hai người thợ hồ khác nhìn nhau, rồi cũng đứng dậy theo, để lại dĩa cơm ăn dở. Anh Lượm ngồi lại, gãi đầu, nhìn về phía bếp như muốn nói gì đó rồi không nói.
Khi Thạch từ trong bếp bước ra, cửa sân sau đã đóng. Cái tạp dề xanh của Tráng được treo ngay ngắn trên cái móc cạnh bồn rửa.
Hôm đó là hai mươi tháng Tư. Sáng hôm đó Thạch vừa ra ngân hàng rút sáu triệu sáu trăm ngàn từ cuốn sổ tiết kiệm, cộng với tám triệu bốn trong két, chuyển khoản mười lăm triệu cho công ty Mộc Lan Đài. Kỳ đầu. Anh đã đứng ở quầy giao dịch nhìn con số trong sổ tiết kiệm giảm xuống, và nghĩ: còn hai mươi lăm kỳ nữa.
Tráng đi bộ.
Từ hẻm Cây Điệp về tới nhà chị Thắm ở phường Chánh Hưng là sáu cây số. Tráng có thể đón xe buýt. Anh có hai trăm ngàn trong túi, tiền Thạch ứng trước cho anh hôm khai trương. Nhưng anh không muốn ngồi trên xe buýt, không muốn có ai ngồi cạnh. Anh đi bộ dọc theo những con đường anh không còn nhận ra sau gần bảy năm. Những tòa nhà kính mới, những cây cầu mới, những hàng quán bán thứ đồ uống có tên tiếng nước ngoài mà anh không đọc được.
Anh nghĩ tới con dao. Bảy năm trước, anh không cầm dao. Anh cầm một khúc ống nước bằng sắt nhặt ở công trình anh đang làm phụ hồ. Anh nhớ rõ hôm đó trời mưa. Chị Thắm chạy qua phòng trọ của anh lúc mười giờ đêm, ướt sũng, tay trái ôm sát vào ngực, cánh tay sưng tím như quả cà. Thằng chồng của chị đã đánh chị lần thứ bao nhiêu anh không đếm nữa, nhưng lần đó nó bẻ gãy tay chị. Anh chạy qua nhà nó. Anh không nhớ được những gì xảy ra sau đó, hoặc anh không muốn nhớ. Anh chỉ nhớ lúc công an tới, anh ngồi bệt dưới hiên nhà, khúc ống nước nằm cách anh hai mét, và anh không chạy.
Thằng đó sống. Nó nằm viện ba tháng, đi khập khiễng tới bây giờ. Tòa xử anh bảy năm.
Anh không bao giờ nói với ai là anh có lý. Ở trong trại, có người kể tội mình như kể chiến công, có người kể như kể chuyện bị oan. Anh không kể. Anh làm bếp. Năm đầu, một gã cùng phòng muốn giành chỗ nằm, đã rạch vào cổ anh một đường bằng cái nắp hộp sữa mài sắc. Anh không đánh lại. Anh để người ta khâu vết thương, và từ đó anh ít nói hơn nữa.
Trong bếp trại, ông già Quảng Ngãi dạy anh chặt gà. Ông nói: "Con dao không có tội. Tay mình cầm nó làm gì, mới là chuyện." Sáu năm anh chặt gà, cắt rau, nấu cơm cho tám trăm người mà chưa từng để dao chạm vào ai.
Hôm nay, một gã ở cùng khu nhìn anh cầm dao chặt gà, và thấy một khúc ống nước sắt.
Nhà chị Thắm là một căn phòng thuê mười hai mét vuông trong con hẻm sát kênh. Chị đi bán vé số chưa về. Anh ngồi xuống ngạch cửa, châm một điếu thuốc anh mua lẻ ở đầu hẻm, và nghĩ tới chuyện ngày mai.
Ngày mai anh sẽ đi tìm việc khác. Có thể là công trình. Công trình không ai hỏi anh từng ở đâu, miễn anh vác được bao xi măng.
Thạch tìm tới lúc tám giờ tối.
Anh hỏi địa chỉ từ tờ đơn xin việc viết tay Tráng đưa hôm đầu tiên. Anh đi xe máy, lạc hai lần trong mấy con hẻm sát kênh, hỏi đường một bà bán chè. Khi anh tới, chị Thắm đã về, đang ngồi bóc vỏ trứng cút trên cái mâm nhôm, tay trái co lại không thẳng được, cổ tay nhô ra một cục xương lệch. Tráng ngồi ngoài ngạch cửa, chân đặt trên bậc tam cấp, ba đầu lọc thuốc lá nằm dưới đất.
Thạch dựng xe, ngồi xuống bậc thềm bên cạnh. Anh không nói gì một lúc. Dưới kênh, nước đen chảy chậm, mùi bùn bốc lên theo hơi nóng tháng Tư.
– Anh để quên cái tạp dề. – Thạch nói.
– Tui không quên. Tui treo lại cho chú.
– Tui biết. – Thạch nhặt một hòn sỏi dưới chân, xoay xoay trong tay. – Chiều nay chị Hảo nói tui một câu. Chỉ nói: "Thằng cha đó ăn cơm ba mươi lăm ngàn mà làm như mua cái mạng người ta." Rồi chỉ chửi luôn mười phút. Tui không biết chỉ chửi được lâu vậy.
Tráng không cười. Nhưng anh quay đầu nhìn Thạch.
– Chú không cần tui đâu. Tui ở đó, khách sợ. Quán chú mới mở, đã ế còn ế thêm.
– Anh biết sáng nay tui trả mười lăm triệu cho nhà hàng cũ chưa?
Tráng lắc đầu.
– Họ đuổi tui vì một chén xốt tui không làm sai. Ít nhất là tui nghĩ vậy. Cả bếp hai mươi hai người, không ai đứng ra nói giùm tui một câu. – Thạch ném hòn sỏi xuống kênh. Nó không kêu. – Trưa nay ông thợ hồ kia nói anh trước mặt cả quán. Nếu tui để anh đi, thì tui cũng giống cái bếp đó.
Chị Thắm ngừng tay bóc trứng. Chị nhìn ra cửa, nhìn em trai mình, nhìn người thanh niên lạ.
– Anh Tráng, – Thạch nói, – mai anh không đứng trong bếp nữa.
Tráng nhìn anh.
– Mai tui kê cái thớt gỗ ra quầy ngoài, sát cửa. Anh đứng đó chặt gà. Ngay trước mặt khách.
– Chú điên hả?
– Ai muốn coi thì coi. Ai sợ thì khỏi ăn gà, ăn thịt kho. – Thạch đứng dậy, phủi quần. – Dao của bếp tui để chặt gà. Tui muốn người ta thấy nó chặt gà.
Sáng hôm sau, thứ Ba, Tráng tới quán lúc năm giờ bốn mươi, sớm hơn mọi ngày hai mươi phút.
Thạch đã kê sẵn một cái bàn inox nhỏ ở bên trái quầy, ngay sau tủ kính, chỗ người đi ngoài hẻm nhìn vào là thấy. Trên bàn là cái thớt gỗ me tròn, con dao chặt, một cái khay inox. Tráng đứng nhìn cái bàn một lúc lâu. Rồi anh mặc tạp dề vào.
Mười một giờ, con gà đầu tiên được đặt lên thớt. Có hai cô gái văn phòng đang đứng chọn món ở tủ kính. Một cô nhìn thấy vết sẹo, lùi lại nửa bước. Tráng không ngẩng lên. Anh chặt. Đùi, cánh, lườn, cổ. Mười hai miếng. Lưỡi dao lên xuống đều như nhịp đồng hồ, không một mảnh xương văng ra ngoài thớt.
Cô gái lùi nửa bước kia nhìn cho tới hết. Rồi cô nói:
– Cho em một dĩa gà. Phần đùi nha anh.
Tráng gắp cái đùi đặt vào dĩa. Tay anh run một chút, rất nhỏ, chỉ Thạch đứng sát bên mới thấy.
Giữa trưa, Khế đi học về, chạy ngay tới bàn chặt gà, kiễng chân nhìn qua mép bàn.
– Chú Sẹo ơi, chú chặt con gà này thành mấy miếng dậy?
Hảo ở quầy suýt đánh rơi cái hộp tiền.
– Khế! Con gọi chú là gì?
– Chú Sẹo. – Con bé nói, vô tư. – Chú có cái sẹo mà.
Cả quán im. Tráng ngừng dao. Anh nhìn con bé, rồi nhìn Hảo đang đỏ mặt tía tai ở quầy.
– Mười hai miếng. – Anh nói với Khế. – Kêu chú Sẹo cũng được. Chú cho phép.
Khế gật đầu, hài lòng, rồi bỏ đi tìm hộp bút màu.
Một giờ trưa, anh Lượm dẫn nhóm thợ hồ tới. Năm người. Trong đó có gã đội nón bảo hộ vàng hôm qua. Gã đi chậm nhất, đứng ở cửa, nhìn vào cái bàn chặt gà, nhìn Tráng.
Anh Lượm đẩy lưng gã vào.
– Tao nói mày rồi, quán này cơm thêm không tính tiền. Mày không ăn gà thì ăn thịt kho. Vào!
Gã ngồi xuống. Gã gọi thịt kho. Gã ăn hai dĩa cơm, không nói câu nào. Lúc trả tiền, gã đi ngang bàn chặt gà, dừng lại một giây.
– Gà… nhìn chặt cũng được. – Gã lầm bầm, rồi đi ra.
Tráng không trả lời. Anh lau con dao, đặt xuống, lưỡi quay vào trong.
Thứ Năm, hai mươi ba tháng Tư.
Lần thứ ba, Thạch không dùng nước dừa. Anh kho cá bằng nước lọc, thêm một chút nước mắm nhĩ anh mua ở một sạp quen tận chợ Xóm Chiếu, kho lâu, rút nước kỹ. Kết quả là một tộ cá mặn mòi, sậm màu, thịt săn, nhưng khô và hơi đắng.
Bà Năm ngửi. Gắp miếng gần xương. Nhai.
Bà lắc đầu. Lần này bà không nói gì. Nhưng bà không đẩy cái tộ ra. Bà xới một chén cơm, chan nước kho, ăn hết chén cơm ấy, chậm rãi, từng đũa một. Rồi bà đặt năm mươi lăm ngàn lên mâm như hai lần trước.
– Gần hơn. – Bà nói, khi Thạch đứng dậy bưng tộ về. – Nhưng con kho như người giận ai.
Sáng thứ Sáu, hai mươi bốn, điện thoại của Thạch reo lúc tám giờ kém mười lăm. Số lạ.
– Alo, anh Lương Bảo Thạch, chủ hộ kinh doanh quán cơm số bốn mươi bảy hẻm Cây Điệp phải không anh?
Giọng một người phụ nữ, khoảng gần bốn mươi, nói nhanh, rõ, kiểu người quen gọi điện công việc.
– Dạ phải.
– Chị là Thùy, cán bộ phụ trách an toàn thực phẩm của Ủy ban nhân dân phường Bàn Cờ. Đang trong tháng hành động vì an toàn thực phẩm, phường có kế hoạch kiểm tra các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn. Quán của em có trong danh sách tuần tới.
– Dạ.
– Chị báo thêm để em nắm. – Giọng chị khựng lại một chút, như đang cân nhắc chữ. – Phường có nhận một đơn phản ánh về quán em. Đơn ký tên một người dân, nội dung là quán sử dụng người có tiền án trong khâu chế biến, vệ sinh bếp không đảm bảo, và nghi dùng cá ươn bỏ đá u-rê.
Thạch đứng sững giữa bếp. Ở bên kia, Tráng đang rửa rau, tay vẫn đều nhưng đầu hơi nghiêng về phía anh.
– Chuyện người có tiền án thì luật không cấm, em yên tâm. – Chị Thùy nói tiếp. – Nhưng các nội dung khác thì đoàn phải kiểm tra. Em chuẩn bị đầy đủ giấy tờ. Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh. Giấy xác nhận kiến thức an toàn thực phẩm và giấy khám sức khỏe của những người trực tiếp chế biến. Hóa đơn hoặc giấy tờ nguồn gốc nguyên liệu. Đoàn sẽ xuống trong tuần tới. Chị không báo được ngày cụ thể.
– Dạ, em cảm ơn chị.
– Không có gì. – Chị ngừng một chút. Rồi giọng chị khác đi, chậm hơn, không còn là giọng công việc. – Hồi nhỏ chị ở hẻm kế bên. Chị ăn cơm bà Hai suốt mấy năm cấp hai. Nước mắm ớt của bà, chị nhớ tới giờ.
Chị cúp máy.
Thạch đứng cầm điện thoại. Câu chữ của chị Thùy còn vang trong đầu anh, từng mẩu một: người có tiền án, vệ sinh không đảm bảo, cá ươn bỏ đá u-rê.
Cá ươn bỏ đá u-rê.
Anh đã nghe câu ấy ở đâu đó. Không phải trong hẻm. Không phải ngoài chợ.
— Hết chương 6 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe