Chương 28: Món nợ năm 2004
Ba giờ sáng, Thạch đứng trước bàn thờ, và lần đầu tiên trong đời anh không thắp nhang cho bà.
Anh đứng đó trong ánh sáng đỏ của cái bóng đèn hình ngọn nến. Ảnh bà mặc áo bà ba tím, tóc búi, cười hở cái răng khểnh. Bên cạnh là tấm ảnh khai trương năm hai ngàn lẻ bốn, bà đứng lùi sau ông Phiệt nửa bước, hai tay đỡ cái tộ.
Năm hai ngàn mười tám, bà ngồi cả buổi chiều trong phòng ông Bảy rồi nói: "Để nó học ở chỗ người ta trả lương." Năm đó anh hai mươi tuổi, mới ra trường trung cấp, bà nói một câu: "Con xin vô nhà hàng Mộc Lan Đài thử coi. Nghe nói ở đó cá kho ngon." Anh đi. Anh đậu. Anh tưởng anh đậu vì anh giỏi.
Năm hai ngàn hai mươi hai, phòng nhân sự gọi anh lên ký hợp đồng đi Osaka. Cả bếp hai mươi hai người, người ta chọn anh. Anh về khoe với bà. Bà gắp cho anh một miếng thịt kho, nói "giỏi". Anh tưởng anh được chọn vì anh giỏi.
Anh đã nấu món của bà sáu năm, hai trăm tộ mỗi ngày, mà không biết. Bà biết. Ông Phiệt biết. Ông Bảy biết. Long biết. Ba biết. Bà Năm biết một nửa. Anh là người duy nhất trong câu chuyện của chính mình không biết gì.
– Bà sắp đặt hết. – Anh nói, nhỏ, với tấm ảnh. – Bà sắp đặt hết mà bà không hỏi con một câu.
Tấm ảnh không trả lời.
Anh với tay, úp tấm ảnh khai trương xuống mặt bàn thờ. Rồi anh đứng nhìn cái mặt sau của nó, cái dòng chữ bút bi đã nhòe: "Khai trương Mộc Lan Đài. 9/2004." Anh không úp ảnh bà. Anh không đủ gan.
Anh đi xuống, nằm trên mấy cái ghế ghép trong gian trước, nhìn trần nhà tới sáng.
Tòa án nhân dân khu vực là một tòa nhà bốn tầng sơn màu vàng nhạt, sân trước có hai hàng cây bàng đang thay lá. Thạch tới lúc tám giờ rưỡi, mặc cái áo sơ mi trắng duy nhất anh có, cái áo anh mặc buổi họp kỷ luật hồi tháng Ba. Luật sư Khải đi bên cạnh, cái cặp da sờn góc kẹp dưới nách.
Ba đi theo. Ba mặc cái áo sơ mi trắng mới mua, nếp gấp còn hằn thành ô vuông trên ngực. Ba không phải là đương sự, không được vào phòng hòa giải. Ông ngồi xuống cái ghế đá dưới gốc bàng, hai tay đặt trên đầu gối, nhìn cánh cửa kính của tòa nhà.
– Ba ngồi đây.
– Dạ.
– Đi đi.
Phòng hòa giải ở tầng hai, nhỏ, một cái bàn dài, quạt trần, cửa sổ nhìn ra hàng cây bàng. Thẩm phán là một phụ nữ ngoài bốn mươi, tóc cắt ngắn, đeo kính, nói chậm và rõ như cô giáo dạy văn. Bên phía công ty có hai người: người luật sư trẻ đeo kính Thạch đã gặp ở buổi họp kỷ luật, và một chị ở bộ phận pháp chế. Không có Long. Không có chị Lan.
Thẩm phán đọc tóm tắt yêu cầu của nguyên đơn. Hợp đồng đào tạo tháng Chín năm hai ngàn hai mươi hai. Chi phí đào tạo. Quyết định sa thải ngày mười chín tháng Ba. Thư chấp thuận trả góp. Sáu kỳ đã trả, kỳ thứ sáu trễ một ngày. Yêu cầu bị đơn thanh toán toàn bộ số còn lại, hai trăm chín mươi sáu triệu đồng.
– Bị đơn có ý kiến gì không?
Thạch nhìn luật sư Khải. Ông gật đầu.
– Dạ. – Thạch nói. – Tôi không đồng ý tôi bị cho thôi việc vì lỗi của tôi. Tôi đã nói điều đó ở buổi họp kỷ luật. Tôi vẫn nói vậy. Nhưng tôi chưa kiện về chuyện đó. Từ tháng Tư tới giờ tôi trả đủ sáu kỳ, chín mươi triệu. Kỳ thứ sáu tôi trễ một ngày, tôi xin lỗi. Tôi xin được tiếp tục trả góp.
Người luật sư trẻ của công ty lật hồ sơ.
– Theo thư chấp thuận, việc chậm thanh toán dù một kỳ…
– Tôi biết. – Thạch nói. Anh nhớ ông Bảy: hỏi gì trả lời nấy. Nhưng hôm nay anh có một câu không ai hỏi mà anh phải nói. – Thưa Tòa, tôi có một đề nghị.
Thẩm phán nhìn anh qua cặp kính.
– Anh nói.
– Hợp đồng ghi chi phí đào tạo của tôi là bao nhiêu, tôi phải hoàn trả tương ứng. – Thạch nói chậm, đúng những chữ luật sư Khải đã cùng anh viết chiều hôm qua. – Tôi đề nghị Tòa yêu cầu công ty cung cấp chứng từ thật của khoản chi phí đó. Công ty chi bao nhiêu, chi khi nào, chi từ đâu, chuyển cho ai.
Người luật sư trẻ ngẩng lên. Chị pháp chế bên cạnh cũng ngẩng lên. Hai người nhìn nhau một nhịp.
– Đề nghị có cơ sở. – Thẩm phán nói, ghi gì đó. – Nguyên đơn có trách nhiệm chứng minh số tiền mình yêu cầu. Tòa đề nghị nguyên đơn bổ sung chứng từ chi phí đào tạo trong thời hạn Tòa sẽ thông báo bằng văn bản.
– Chúng tôi sẽ cung cấp. – Người luật sư trẻ nói.
– Hai bên có hòa giải được về số tiền và cách trả không?
Bên công ty nói không. Thạch nói anh xin trả góp. Thẩm phán ghi vào biên bản: hòa giải không thành. Bốn mươi phút.
Khi anh xuống tới sân, ba vẫn ngồi trên ghế đá, đúng tư thế lúc anh đi lên. Một chiếc lá bàng đỏ rơi trên vai cái áo sơ mi trắng mới, ba không phủi.
– Sao rồi?
– Không thành. Tòa bắt công ty đưa giấy tờ chi phí.
Ba gật đầu. Ông đứng dậy, phủi chiếc lá bàng đi, rồi nói một câu Thạch không ngờ:
– Mày nói được hả? Ở trỏng?
– Dạ.
– Ờ. – Ba nói, quay đi trước. – Má mày cũng vậy. Ngồi im cả buổi, rồi nói một câu là xong.
Thạch không biết ba nói "má mày" là bà nội hay là người đàn bà đã bỏ đi năm hai ngàn lẻ năm. Anh không hỏi.
Mười một giờ, anh về tới hẻm. Quán đang mở. Hảo đứng quầy, Ngà và Tráng đứng bếp, Nguyên chạy cơm tháng. Họ đã mở quán không có anh, đúng như sáng nay Hảo nói, "cậu đi Tòa thì đi, tụi tui bán, cậu về mà thấy quán đóng là tui giận".
Ông Bảy không ở trong bếp. Ông ngồi dưới gốc điệp, ghế nhựa thấp của bà Tám Ròm, ly cà phê sữa đá.
Thạch không vào quán. Anh đi ra đầu hẻm, kéo cái ghế nhựa cạnh ông Bảy, ngồi xuống. Bà Tám Ròm rót cho anh một ly trà đá, không hỏi gì, rồi quay đi.
– Ba con kể hết rồi, ông. – Anh nói. – Năm đó ba con nợ bốn trăm triệu.
Ông Bảy không trả lời ngay. Ông khuấy ly cà phê, nghe đá kêu lách cách.
– Bốn trăm triệu. – Ông nói. – Tao đoán là có nợ. Tao không biết nhiều vậy.
– Ông Phiệt trả tiền con đi Nhật bằng tiền riêng. Dặn không đòi.
Ông Bảy ngừng khuấy. Ông nhìn anh.
– Cái đó tao không biết.
– Giờ ông biết. – Thạch nói. – Giờ ai cũng biết hết rồi. Chỉ có con là người cuối cùng biết.
Anh nghe giọng mình. Nó không phải giọng của người đứng bếp. Nó là giọng của một thằng bé mười tuổi bị đuổi ra khỏi bếp chiều thứ Năm: "đi chơi đi, đứng đây khói cay mắt".
– Con giận bà. – Anh nói. – Lần đầu tiên con giận bà. Bà đẩy con vô Mộc Lan Đài, bà biết con sẽ nấu món của bà cho người ta, bà biết ông Phiệt cho con đi Nhật. Bà không nói. Con tưởng con tự đi được tới đó.
Ông Bảy uống một ngụm cà phê, đặt ly xuống cái bàn nhựa thấp.
– Mày tự đi tới đó. – Ông nói. – Bà mày chỉ mở cửa. Mày không biết nấu thì ông Phiệt nghe mày gõ đũa ba trăm lần cũng không cho mày đi đâu hết.
Anh không nói gì.
– Mày có biết vì sao bà mày không dạy mày cá kho ở nhà không?
– Vì bà hứa với ông Phiệt.
– Bà hứa không bán. Bà không hứa không dạy cháu. – Ông Bảy nói. – Bà dạy thằng Hiển từ năm nó mười tuổi. Bà dạy được mày.
Thạch quay sang nhìn ông.
– Vậy sao bà không dạy con?
Ông Bảy nhìn ra con đường lớn ngoài đầu hẻm, xe cộ chạy ngang, nắng trưa trắng xóa.
– Bà mày không muốn mày học món của bà ở nhà. – Ông nói. – Học ở nhà là học của bà già bán cơm hẻm. Người ta nói "món của bà nội nó", hết. Bà muốn mày học nó ở chỗ người ta trả tiền cho mày. Ở chỗ hai trăm tộ một ngày. Ở chỗ khách nước ngoài tới chụp hình. Để có ngày mày đứng trước mặt ai cũng được mà nói: món này tôi nấu sáu năm, tôi biết nó thiếu cái gì.
Ông dừng lại.
– Bà mày bán món cá kho cho người ta để trả nợ cho con. Rồi bà để cháu đi học lại món đó ở nhà người ta, có lương, có học bổng. Mày nghĩ coi, ai lời?
Thạch ngồi im rất lâu. Bà Tám Ròm thay đá trong ly trà của anh, anh không thấy.
– Ông Bảy. – Anh nói. – Con hỏi ông một chuyện. Ông không trả lời cũng được.
– Hỏi.
– Năm hai ngàn mười, sao ông về hẻm này ở?
Ông Bảy không trả lời ngay. Ông cầm ly cà phê lên, uống cạn, rồi đặt xuống, xếp phẳng mười lăm ngàn dưới đáy ly cho bà Tám Ròm. Ông đứng dậy, khớp gối kêu răng rắc. Ông đứng nhìn vào trong hẻm, về phía khúc quẹo thứ hai, về phía tấm bảng gỗ "Quán cơm bà Hai" mà từ đây không nhìn thấy được.
– Năm hai ngàn lẻ chín tao cãi ông Phiệt, tao đi. – Ông nói. – Năm mươi bảy tuổi, không vợ, không con, không còn bếp. Tao đi lang thang cả năm. Một bữa tao đi ngang hẻm này, thấy bà mày đứng sau tủ kính múc cơm cho thợ hồ. Bà ngẩng lên, thấy tao, bà nói: "Ông Bảy. Vô ăn cơm." Tao vô ăn. Cơm tấm, không mỡ hành. Bà không lấy tiền.
Ông im một lúc.
– Tháng sau tao thuê cái phòng gác nhà sáu mươi mốt. – Ông nói. – Mười bốn năm. Sáng nào tao cũng ra đây ngồi uống cà phê, nhìn vô. Ngày nào tao cũng ăn một dĩa. Tao chưa từng nói với bà một câu cho ra hồn. Bà cũng không hỏi. Có vậy thôi.
Ông chắp tay sau lưng, đi vào hẻm.
Tối thứ Tư, hai mươi mốt tháng Mười, Thạch nhóm lò than như mọi tối thứ Tư.
Ba chưa đi. Ba nói chuyến xe khách ra Đà Nẵng sáng mai mới chạy. Ông ngồi trên cái ghế đẩu cạnh lò, không nói, không hỏi, nhìn Thạch thắng nước màu, ướp cá, kho trên lửa ga. Khi Thạch bưng cái tộ niềng đồng ra sân sau, ba đứng dậy, tự tay đặt cái vỉ tre xuống đáy tộ. Cái vỉ ông đan năm hai ngàn lẻ ba, ông xoay nó một góc nhỏ cho khớp với lòng tộ.
Hai tiếng riu riu. Hai cha con ngồi hai bên lò, không ai nói gì.
Mười một giờ, Thạch rút một lá chuối khô trong xấp lá mới của ông Bảy. Ba nhìn cái lá, cầm lên, soi dưới ánh lửa, rồi gật đầu.
– Phơi được. – Ông nói. – Ổng học của má.
Thạch đậy lá, đậy nắp, vùi tộ vào tro.
Trước khi lên lầu ngủ, anh đứng trước bàn thờ, dựng tấm ảnh khai trương lên lại, cạnh ảnh bà, chỉnh cho ngay. Anh thắp ba cây nhang.
Điện thoại anh rung lúc mười một giờ bốn mươi. Một số anh đã lưu từ hôm tháng Tám, tên lưu trong máy chỉ có một chữ: "Lan".
"Anh Thạch. Bên pháp chế vừa gửi tôi hồ sơ chi phí đào tạo để nộp Tòa theo yêu cầu. Tôi đọc rồi. Tôi hỏi anh một câu: anh có biết khoản học phí Osaka của anh do ai trả không?"
— Hết chương 28 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe