AI Truyện
Nồi cá kho ba lửa hẻm Cây Điệp

🏙️ Đô thị & làm giàu

Ba lửa

Nồi cá kho ba lửa hẻm Cây Điệp · Chương 33/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 12 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 33: Ba lửa

Khói bốc lên từ cái chảo gang lúc sáu giờ mười lăm tối thứ Sáu, và Thạch biết đêm nay sẽ không có ai đứng sau lưng mình để nói "khét ba giây".

Anh đứng một mình trước cái bếp ga của ban tổ chức, dưới mái tôn của khu bếp ngoài trời trong khuôn viên trường dạy nghề. Trời đã tối. Đèn huỳnh quang treo trên xà sắt chiếu xuống ba khu bếp cách nhau chừng mười mét. Bên trái là đội sủi cảo nhà họ Lư, bà cụ tám mươi tuổi ngồi trên ghế đẩu chỉ tay cho đứa cháu nhồi nhân. Bên phải là đội mái ấm Hoa Sứ, ba cô chú ngoài năm mươi đang vo gạo trong một cái thau nhôm to như cái nia. Mỗi khu có hai sinh viên của trường đeo băng đỏ trên tay, ngồi giám sát, thay ca bốn tiếng một lần.

Đường thốt nốt tan, sủi bọt, chuyển vàng, chuyển cánh gián.

Sáng nay, ông Bảy được mổ. Bác sĩ nói nứt cổ xương đùi, phải thay khớp háng, ở tuổi ông là cuộc mổ lớn nhưng không nguy hiểm tới tính mạng. Ông không có vợ con. Người ký giấy cam kết mổ là cô Lài. Cô chạy từ Thủ Đức xuống lúc sáu giờ sáng, không ai gọi, chỉ nghe Hảo nhắn trong nhóm chat của hẻm. Cô nói với bác sĩ: "Tui là cháu." Bác sĩ không hỏi cháu kiểu gì.

Trưa, khi ông Bảy tỉnh thuốc mê, Thạch vào thăm. Ông nằm trên giường bệnh, áo bệnh viện kẻ sọc, không cài được tới cổ. Ông nhìn Thạch, nói đúng một câu:

– Đi đi. Trễ giờ.

Khói bắt đầu bốc lên. Mỏng. Hơi xanh, như khói thuốc lá.

Thạch đứng im. Anh không đếm. Anh nhìn. Anh nhớ bàn tay gầy lốm đốm đồi mồi thò qua vai mình vặn tắt bếp ga sáng thứ Hai mười lăm tháng Sáu. "Khói xanh rồi. Chờ đổi khói trắng."

Hai hơi thở. Ba hơi thở. Làn khói dày lên, đục đi, chuyển sang màu trắng như hơi sương.

Nước.

Chảo xèo lên. Hơi nước trùm lấy mặt anh. Khi nó tan, anh chấm đầu ngón tay út vào mép nước màu, đưa lên lưỡi. Ngọt sâu, sậm, thơm mùi đường cháy vừa tới. Không có vệt đắng ở cuống lưỡi.

Nguyên đứng sau lưng anh, cầm điện thoại bấm giờ, không nói gì. Cậu không cần nói. Thạch thấy cậu thở ra.

Bảy giờ, cá bông lau đã ướp xong. Hảo mua ở chợ Bàn Cờ sáng nay, con tốt nhất cô Bé bán cá có, cô không lấy thêm đồng nào. Nước mắm nhĩ. Đường thốt nốt. Tiêu sọ đập dập. Hành tím nguyên củ. Một lát gừng nướng trên lò than nhà, mang theo trong hộp. Thạch xếp cá vào cái tộ niềng đồng, cái vỉ tre ba đan năm hai ngàn lẻ ba lót dưới đáy. Kho trên lửa ga cho sệt.

Tráng nhóm lò thùng phuy. Than tổ ong mồi dưới đáy, than đước xếp lên trên. Nhưng than đước chỉ còn nửa bao, chỗ dư từ đợt thử lò thứ Bảy trước. Tối hôm qua ba gọi lại, nói một câu "mai tao tới", rồi tắt máy. Từ đó không nghe máy nữa.

Tám giờ, Thạch bưng cái tộ ra lò thùng phuy, đặt lên miệng lò, hạ lửa riu riu. Hai tiếng. Hảo ngồi trên cái thùng sơn úp ngược cạnh lò, cầm cái quạt mo của bà phe phẩy cửa gió. Ngà ngồi dưới đất, ôm đầu gối, nhìn lửa.

Chín giờ, đội sủi cảo đã nhồi xong ba trăm cái, bà cụ đi ngủ trong cái lều bạt ban tổ chức dựng sau sân. Mười giờ, đội mái ấm Hoa Sứ ngồi quây quần quanh một nồi nước dùng xương đang hầm, một cô hát nho nhỏ một bài gì đó Thạch không biết tên.

Mười giờ, cái tộ rời khỏi miệng lò. Than đước đã cháy gần hết. Tráng lôi bao than ra, dốc ngược. Chừng bảy, tám cục.

– Không đủ vùi tới sáng. – Anh nói.

Thạch gọi ba. Thuê bao không liên lạc được.

– Than tổ ong thì sao anh? – Nguyên hỏi.

– Than tổ ong nóng mà không đều. Để qua đêm là khét đáy. – Thạch nói. – Mình vùi trước bằng chỗ than còn lại. Rồi tính.

Mười một giờ đêm, anh mở cái thúng tre, lấy ra xấp lá chuối khô. Có hai xấp: xấp lá ông Bảy phơi trên mái tôn phòng gác, và xấp lá của bà, còn mười sáu lá, từ hôm có lá của ông Bảy anh chưa đụng tới. Anh rút một lá trong xấp của bà.

Anh đậy lá chuối khô lên mặt cá. Đậy nắp. Tráng dùng cái kẹp sắt gắp cái tộ, hạ xuống lòng lò thùng phuy, Thạch cào tro nóng phủ kín quanh thân tộ tới sát miệng.

Hai sinh viên giám sát ghi vào sổ: "23:04. Đội số 7. Tộ đã vùi."

Một giờ sáng, trời đổ mưa.

Không phải mưa lớn, nhưng gió tạt ngang. Mái tôn khu bếp ngoài trời bị dột ở một mép, đúng mép phía trên lò thùng phuy. Những giọt nước đầu tiên rơi xuống lớp tro nóng, xèo lên, bốc thành những sợi hơi trắng.

Tráng chạy đi kiếm cái bạt nhựa trong thùng đồ. Nguyên và Ngà mỗi người cầm một góc, căng lên trên lò như một cái lều. Nước mưa đọng trên bạt, chảy xuống hai bên, không rơi vào tro nữa. Nhưng gió vẫn lùa vào, lạnh, ẩm.

Hai giờ rưỡi, Thạch gạt tro ra một góc, kiểm tra. Anh không định nhấc tộ lên. Anh chỉ muốn sờ thân tộ xem tro còn đủ nóng không.

Ngón tay anh chạm vào chân tộ, ngay sát đáy. Ở đó, dưới lớp tro, có một cái gì ướt. Không phải nước mưa. Nóng, sệt, mùi nước màu.

Anh gạt thêm tro. Dưới ánh đèn pin của Nguyên, một vết nứt mảnh như sợi tóc chạy từ đáy tộ lên chừng hai đốt ngón tay. Nước kho rỉ ra từ vết nứt, từng giọt, nhỏ xuống than, xèo một tiếng nhỏ rồi tắt.

Không ai nói gì. Ngà đưa tay lên bịt miệng.

Thạch ngồi xổm trước lò, nhìn vết nứt. Sáu mươi năm. Hơn ngàn đêm vùi tro. Một chỗ mẻ ở miệng mà một người thợ hàn nồi đã niềng lại bằng đai đồng và hai cái đinh tán. Và đêm nay, trong một cái thùng phuy cưa đôi dưới một mái tôn dột, ở một nơi không phải sân sau nhà số bốn mươi bảy, nó nứt.

Anh đã sợ cái vết nứt này từ hai tuần trước. Giờ nó ở đây, anh lại không thấy sợ. Anh chỉ thấy rất tỉnh.

– Nhấc lên. – Anh nói. – Tráng, kẹp.

Tráng gắp cái tộ ra khỏi tro, đặt lên cái thớt gỗ lật úp. Hơi nóng bốc lên. Nước kho vẫn rỉ, chậm, từng giọt.

Ở cổng trường dạy nghề, có tiếng còi xe tải. Một tiếng ngắn. Rồi một tiếng dài.

Sinh viên giám sát đứng dậy, nhìn ra. Ánh đèn pha vàng chói rọi qua hàng rào sắt. Một chiếc xe tải chở hàng loại lớn, thùng phủ bạt, đậu sát lề, máy còn nổ. Bảo vệ trường đứng chặn ở cổng, khoát tay.

Một người đàn ông nhảy xuống từ ca bin. Người đậm, áo khoác kaki của tài xế ướt sũng. Trên vai trái ông vác một bao tải nhựa nặng trĩu, cột miệng bằng dây chuối. Ông nói gì đó với bảo vệ, chỉ tay vào trong. Bảo vệ lắc đầu. Ông đứng im một giây. Rồi ông đặt bao tải xuống đất, móc ví, rút ra cái căn cước, dúi vào tay bảo vệ, vác bao tải lên lại, đi thẳng vào.

Ba.

Ông đi qua sân trường dưới mưa, ngang khu bếp đội sủi cảo, ngang lều bạt có bà cụ tám mươi tuổi đang ngủ, tới thẳng khu bếp số bảy. Ông đặt bao tải xuống cạnh lò thùng phuy. Than đước. Đen bóng, cứng, gõ vào nhau kêu leng keng như sứ.

– Vựa than ở Cần Giờ. – Ông nói, thở hổn hển. – Đóng cửa từ chiều. Tao gõ cửa nhà ông chủ vựa lúc mười giờ đêm. Chạy về kẹt xe ở phà.

Rồi ông nhìn thấy cái tộ trên thớt. Vết nứt. Giọt nước kho rỉ ra.

Ông không nói gì. Ông ngồi xổm xuống, nghiêng đầu nhìn vết nứt dưới ánh đèn pin, gần, như nhìn một cái máy xe hỏng.

– Cơm nguội. – Ông nói. – Có cơm nguội không?

– Dạ có. – Nguyên nói. – Cơm tối tụi em ăn còn dư.

– Đem lại đây.

Nguyên chạy đi, mang về một hộp cơm nguội. Ba bốc một nắm nhỏ, bóp nát giữa hai ngón tay cái và ngón trỏ cho tới khi nó nhuyễn thành một thứ bột dẻo, trắng đục. Ông trét nó vào vết nứt, miết dọc theo từ chân tộ lên, ép chặt, miết lại lần nữa.

– Má làm vầy. – Ông nói, không ngẩng lên. – Hồi tao mười mấy tuổi, cái tộ này nứt chân một lần. Má trét cơm nguội, hơ lửa. Cơm chín, khô lại, thành keo. Xài thêm hai chục năm.

– Nó chịu được tới sáng không ba?

– Không biết. – Ba nói. – Chưa vùi lại bao giờ.

Tráng đã đứng dậy từ lúc nào. Anh lục trong thùng đồ, lôi ra cuộn dây kẽm còn dư từ hôm làm lò thùng phuy, và cái kìm. Anh ngồi xuống cạnh ba Thạch.

– Chú Hiển, để tui buộc. – Anh nói. – Kẽm siết ngoài, cơm nguội trét trong. Vết nứt nó không há ra được.

Ba nhìn Tráng. Nhìn vết sẹo trên cổ Tráng dưới ánh đèn pin. Rồi ông gật đầu, lùi ra.

Tráng quấn dây kẽm ba vòng quanh thân tộ, ngay trên chỗ nứt, cách đáy hai đốt ngón tay. Anh siết từng vòng bằng cái kìm, chậm, đều, như người thợ hàn nồi ngày xưa siết cái đai đồng quanh miệng tộ. Ba vòng kẽm bạc sáng lên dưới đèn, song song với cái đai đồng xỉn màu ở trên.

Thạch nhìn cái tộ. Một đai đồng của một người thợ hàn nồi không tên từ hơn nửa thế kỷ trước. Ba vòng kẽm của một người vừa ra tù. Một lớp cơm nguội của bà, qua tay ba.

Họ hơ cái tộ trên bếp than tổ ong cho lớp cơm nguội chín khô lại. Rồi ba đổ than đước vào lò thùng phuy, xếp từng cục, không để ai đụng tay vào. Cửa gió mở hé một khe bằng ngón tay. Ba giờ bốn mươi, cái tộ được vùi lại vào tro.

Sinh viên giám sát ghi: "03:42. Đội số 7. Tộ vùi lại. Có người nhà mang than tới, đã báo ban tổ chức."

Ba ngồi xuống cái ghế đẩu cạnh lò. Ông cởi cái áo khoác kaki ướt sũng, vắt lên một góc bạt. Ông không nói gì nữa.

Thạch ngồi xuống cái thùng sơn bên kia lò. Hai cha con ngồi hai bên cái lò thùng phuy, như tối thứ Tư tháng trước ở sân sau nhà số bốn mươi bảy, nghe mưa rơi trên bạt.

Chín giờ rưỡi sáng thứ Bảy, Tráng gắp cái tộ ra khỏi tro.

Thạch nín thở. Anh nhìn chân tộ. Lớp cơm nguội đã khô thành một đường màu nâu nhạt dọc theo vết nứt. Ba vòng kẽm vẫn siết. Không một giọt nước kho nào rỉ ra.

Anh mở nắp. Lá chuối khô đã cháy sém thành một lớp mỏng nâu đen, bóc ra nguyên tấm. Bên dưới, cá bông lau nằm nguyên khúc, thịt săn, màu nâu sậm bóng như gỗ gụ. Mùi khói lá chuối bốc lên, lan ra khắp khu bếp ngoài trời, lan qua khu bếp đội sủi cảo, khu bếp đội Hoa Sứ. Bà cụ tám mươi tuổi ngẩng đầu lên, hít hít.

Mười giờ rưỡi, anh hơ cái tộ trên lửa than đước cho ấm lại.

Mười giờ năm mươi lăm, anh rắc một nhúm tiêu sọ. Rồi anh cầm đôi đũa tre lên.

Ở hàng ghế khán giả cách khu bếp hai mươi mét, có ba mươi người ngồi. Chị Lan ngồi ở hàng thứ hai, áo sơ mi trắng, tay đặt trên đùi. Bà Tám Ròm ngồi hàng cuối với thằng Tí. Anh Lượm đứng sau cùng, áo bảo hộ sạch, chắc vừa mới giặt. Ba đứng bên cạnh lò thùng phuy, tay chắp sau lưng, như ông Bảy.

Thạch gõ ba cái lên cái đai đồng.

Keng. Keng. Keng.

Mười một giờ, năm giám khảo đứng trước khu bếp số bảy. Bà nghiên cứu ẩm thực. Ông đầu bếp người nước ngoài. Bà chủ tiệm bánh. Anh nhà báo. Bà Lý Tư Dung, chủ quán cơm tấm bốn mươi năm ở Chợ Lớn, tóc bạc trắng, đeo cặp kính gọng đồi mồi.

Năm cái chén nhỏ. Mỗi chén một miếng cá ở phần gần xương, một muỗng nước kho sệt.

Họ nếm.

Thạch đứng thẳng lưng sau cái tộ niềng đồng có ba vòng kẽm siết quanh chân. Anh không nói gì. Anh chờ.

Không ai trong năm giám khảo nói gì. Không ai ghi điểm. Bà Tư Dung đặt cái chén xuống, tháo cặp kính đồi mồi ra, nhìn cái tộ. Ông đầu bếp người nước ngoài nhắm mắt. Bà nghiên cứu ẩm thực cầm cái muỗng, rồi không múc nữa, chỉ cầm.

Im lặng kéo dài. Mười giây. Hai mươi giây. Ở hàng ghế khán giả, không ai cựa quậy. Chỉ có tiếng mưa còn sót lại nhỏ giọt từ mép mái tôn xuống nền xi măng.

— Hết chương 33 —

Mục lục Nồi cá kho ba lửa hẻm Cây Điệp

  1. 1Chén xốt bàn số bảy9 phút
  2. 2Tấm thẻ đỏ trong túi áo bếp12 phút đọc
  3. 3Ba giây12 phút đọc
  4. 4Ngày khai trương mười một dĩa10 phút đọc
  5. 5Bà khách thứ Năm11 phút đọc
  6. 6Con dao để chặt gà11 phút đọc
  7. 7Đá u-rê10 phút đọc
  8. 8Tấm thớt màu xanh lá10 phút đọc
  9. 9Tấm ảnh khai trương năm 200411 phút đọc
  10. 10Ba về giữa mùa mưa10 phút đọc
  11. 11Khách quen của bếp cũ10 phút đọc
  12. 12Máy lạnh ở đầu hẻm10 phút đọc
  13. 13Đêm sốt ở bệnh viện nhi11 phút đọc
  14. 14Ba chục lá chuối khô11 phút đọc
  15. 15Bốn giờ chiều thứ Năm10 phút đọc
  16. 16Tên một người tù trên đơn đăng ký11 phút đọc
  17. 17Ba mươi phút trong chợ11 phút đọc
  18. 18Chén xốt thứ hai11 phút đọc
  19. 19Người nếm thử ở cửa ra món12 phút đọc
  20. 20Ông già trên xe lăn12 phút đọc
  21. 21Hai cách kết một vụ kiện12 phút đọc
  22. 22Món của người nhà12 phút đọc
  23. 23Người thứ năm11 phút đọc
  24. 24Giấy triệu tập11 phút đọc
  25. 25Lửa trong hẻm11 phút đọc
  26. 26Bếp sáu mươi người11 phút đọc
  27. 27Ba của Thạch10 phút đọc
  28. 28Món nợ năm 200411 phút đọc
  29. 29Học bổng không phải học bổng12 phút đọc
  30. 30Lời thú nhận ở phòng khách ông Hòa10 phút đọc
  31. 31Món nợ trả bằng gì10 phút đọc
  32. 32Xin phép một ông già10 phút đọc
  33. 33Ba lửa12 phút đọc
  34. 34Hạng nhì10 phút đọc
  35. 35Thứ Năm ở bệnh viện10 phút đọc
  36. 36Keng keng keng10 phút đọc

Về truyện này

Nồi cá kho ba lửa hẻm Cây Điệp là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Đức của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →