AI Truyện
Nồi cá kho ba lửa hẻm Cây Điệp

🏙️ Đô thị & làm giàu

Ba chục lá chuối khô

Nồi cá kho ba lửa hẻm Cây Điệp · Chương 14/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 14: Ba chục lá chuối khô

Bộ dao nằm trong cái túi vải bố màu chàm cuộn tròn, buộc bằng hai sợi dây da. Khi Thạch mở nó ra trên mặt quầy của tiệm đồ bếp cũ trên đường Hòa Hảo, ông chủ tiệm huýt sáo một tiếng dài.

Sáu con dao. Dao thái, dao phi lê cá, dao lọc xương, dao gọt, dao bản to để băm, và một con dao lưỡi mỏng dài để cắt sashimi mà anh chỉ dùng có mấy lần. Thép xếp lớp, vân thép chạy trên lưỡi như vân gỗ. Cán gỗ mộc, đã sẫm màu và láng lên vì tay anh cầm suốt hai năm rưỡi. Anh mua bộ dao này ở một tiệm rèn nhỏ trong một con phố hẹp ở Osaka, bằng ba tháng lương học việc, năm 2023.

– Bảy triệu. – Ông chủ tiệm nói, sau khi cầm từng con lên soi dưới đèn. – Bộ này mới thì mắc gấp năm. Nhưng dao cũ, mài rồi, tui bán lại cũng khó.

– Tám triệu được không chú?

– Bảy rưỡi. Hết cỡ rồi.

Thạch nhìn bộ dao. Anh cầm con dao phi lê cá lên, lần cuối, xoay nó một vòng trong lòng bàn tay như Tráng xoay con dao chặt hôm đầu tiên. Rồi anh đặt nó lại vào túi vải, cuộn lại, đẩy về phía ông chủ tiệm.

– Bảy rưỡi.

Hôm đó là thứ Sáu, mười chín tháng Sáu. Ngày mai là hai mươi. Hảo nghỉ một tuần, quán bán chậm, cơm tháng thì khách trả trước nửa tháng đã tiêu vào tiền chợ. Trong két còn tám triệu một trăm. Anh cần mười lăm triệu.

Sáng thứ Bảy, anh chuyển khoản kỳ thứ ba cho công ty Mộc Lan Đài. Rồi anh về quán, treo cái móc sắt trống lên tường bếp chỗ trước đây anh treo túi dao, và dùng con dao thái rẻ tiền mua ở chợ Bàn Cờ để cắt hành.

Tráng nhìn cái móc sắt trống. Anh không hỏi gì.

Thứ Hai, hai mươi hai, Hảo về. Chị dắt Khế tới quán lúc mười giờ, con bé gầy đi trông thấy, tay còn dán băng keo chỗ kim truyền. Khế chạy thẳng tới bàn chặt gà, ôm lấy chân Tráng. Tráng đứng sững, hai tay giơ lên cao như sợ dao dính vào con bé, rồi từ từ hạ một tay xuống xoa đầu nó.

Hảo đứng ở quầy, nhìn ông Bảy Thức đang đếm tiền thối trong két.

– Ông Bảy, tui về rồi.

– Ờ. – Ông Bảy đẩy cái két về phía chị, đứng dậy. – Tiền đủ. Đếm lại đi.

– Tui không đếm lại đâu ông.

– Đếm. – Ông nói. – Đứng quầy mà không đếm lại tiền người khác giao là đứng quầy dở.

Hảo cười, lần đầu tiên sau mười ngày. Chị đếm. Đủ.

Ông Bảy không đi về. Ông đi vào bếp, đứng cạnh Thạch, nhìn vào nồi thịt kho đang sôi.

– Mỡ chưa trong. Thêm nửa tiếng.

Từ hôm đó, ông Bảy ở lại bếp. Ông không nói ông ở lại. Ông chỉ tới lúc chín giờ sáng, đi thẳng vào bếp, đứng ở một góc, và lên tiếng mỗi khi có cái gì sai. Ông không đụng vào món nào. Ông chỉ nói: lửa lớn quá, muối chưa tan, rau luộc lâu rồi, cá chưa ráo. Ba giờ chiều ông ăn một dĩa thịt kho, xếp ba mươi lăm ngàn dưới chén, rồi về.

Thạch không trả lương cho ông. Ông không hỏi.

Tối thứ Tư, hai mươi bốn tháng Sáu, Thạch nhóm cái lò than của bà lần đầu tiên.

Anh lấy than đước trong cái bao ba để lại, xếp vào lòng lò, mồi bằng mấy cục than tổ ong. Cánh cửa gió ba sửa trượt êm, anh mở hé một khe nhỏ, nhìn lửa bén dần từ đỏ sẫm sang đỏ cam. Khói than đước không cay như than tổ ong. Nó có mùi gỗ, mùi bùn, mùi của rừng ngập mặn mà anh chưa từng đi tới.

Anh kho cá trên bếp ga cho sệt, như mọi lần. Rồi anh bưng cái tộ niềng đồng ra sân sau, đặt lên miệng lò than, hạ lửa riu riu. Hai tiếng, anh ngồi cạnh lò trên cái ghế đẩu, phe phẩy cái quạt mo của bà mà anh tìm thấy trên gác bếp.

Mười một giờ đêm, anh lót lá chuối tươi lên mặt cá, đậy nắp tộ, dùng cái kẹp sắt gắp tộ xuống, vùi vào lớp tro nóng dưới đáy lò, cào tro phủ kín quanh thân tộ tới sát miệng.

Rồi anh đi ngủ.

Sáng thứ Năm, năm giờ, anh xuống sân sau. Lò đã nguội gần hết, chỉ còn hơi ấm. Anh gạt tro, nhấc cái tộ lên. Tro bám đầy quanh thân tộ, xám trắng như bột. Anh mở nắp.

Lá chuối tươi đã nhũn ra, đen sì, dính bết vào mặt cá. Nước kho cạn gần hết. Khi anh gắp lá chuối ra, một mảng thịt cá dính theo, bể vụn. Ở đáy tộ, một lớp cá đã cháy đen, dính chặt vào thành đất nung.

Anh không mang tộ đó cho bà Năm. Anh kho lại một tộ khác trên bếp ga, như tuần trước. Bà Năm ăn, nói "gần rồi", như tuần trước.

Thứ Sáu, anh thử lại. Lần này anh không vùi tộ sâu, chỉ để nó nằm trên lớp tro mỏng, lửa than giữ ở mức thấp nhất. Sáng thứ Bảy, cá không cháy, nhưng cũng không có gì khác so với cá kho trên bếp ga. Lá chuối tươi để lại một mùi hăng như cỏ ướt.

Thứ Bảy, anh vùi lại, nhưng đổ thêm nước cho khỏi cạn. Sáng chủ nhật, cá nhạt, bở, nước kho loãng như canh.

Ba mẻ. Ba con cá bông lau, cộng lại gần năm trăm ngàn. Hảo không khoanh tròn con số. Chị ghi nó vào cột "chi phí khác" và không nói một lời. Thạch biết đó là cách chị nói rằng chị không giận, nhưng chị đang lo.

Chiều chủ nhật, hai mươi tám, quán nghỉ. Thạch leo lên gác bếp.

Gác bếp là một tấm ván gỗ bắc ngang trên đầu cái bếp xây, cách trần chừng một mét, chỗ bà nội anh cất những thứ ít dùng. Hôm mới về anh đã dọn sơ, lấy xuống cái quạt mo, mấy cái nồi đất, mấy cái rổ tre. Hôm nay anh leo lên lần nữa, với cái đèn pin của ông Bảy cho mượn, bò vào tận góc trong cùng sát vách tường.

Ở đó có một bó gì đó, gói trong một tấm ni lông cũ, buộc bằng dây chuối khô.

Anh kéo nó ra. Bụi bay mù mịt, anh ho sặc sụa. Anh gỡ dây, mở tấm ni lông.

Bên trong là một xấp lá chuối khô. Không phải lá chuối khô quắt, rách bươm như rác. Đây là lá chuối được phơi cẩn thận, ép phẳng, màu nâu vàng như giấy cũ, xếp chồng lên nhau, mỗi lá được cắt thành hình tròn to bằng miệng cái tộ niềng đồng. Có chừng ba chục lá. Và nằm dưới xấp lá là một cái vỉ tre tròn, đan bằng nan tre mỏng, đường kính nhỏ hơn đáy tộ một chút.

Anh ngồi trên gác bếp, giữa bụi và mạng nhện, cầm cái vỉ tre trên tay rất lâu.

Cái vỉ lót đáy tộ. Để cá không dính, không cháy khi vùi trong tro. Và lá chuối khô, không phải lá tươi. Lá chuối khô đậy lên mặt cá, khi tro nóng hun qua, nó không nhũn ra mà cháy âm ỉ, tỏa khói vào trong tộ. Khói lá chuối.

Bà nội anh đã cắt sẵn ba chục lá. Ba chục tuần. Cắt vào lúc nào đó trước khi bà nằm xuống, khi bà vẫn còn nghĩ rằng mình sẽ còn đứng dậy kho cá cho bà Năm ba chục lần nữa.

Thứ Ba, ba mươi tháng Sáu, cô Lài tới.

Thạch đã biết cô sẽ tới. Ba tháng. Hết tháng Sáu. Anh đứng sau quầy, cạnh Hảo, nhìn cô bước vào quán lúc mười một giờ rưỡi, giờ đông nhất. Quán có bốn mươi mấy người. Đám thợ hồ của anh Lượm. Mấy cô văn phòng đã quay lại sau khi quán bên kia tăng giá lên ba mươi chín ngàn. Mấy bà già trong hẻm ngồi ăn tại chỗ thay vì chờ cơm tháng giao tới. Tráng đứng chặt gà. Nguyên chạy ra chạy vào. Ông Bảy đứng trong góc bếp.

Cô Lài đứng ở cửa nhìn một lúc. Rồi cô đi tới quầy.

– Con Hảo, sổ đâu?

Hảo đưa cuốn sổ thu chi. Cô Lài đứng ngay đó, giữa tiếng ồn ào của quán, lật từng trang. Cô lật chậm. Cô dừng lại ở trang tháng Năm, ở trang tháng Sáu. Cô nhìn những con số khoanh tròn, những con số không khoanh. Cô nhìn dòng "tiền nhà: 9.000.000" được ghi và đánh dấu "đã trả" ngày hai mươi mốt mỗi tháng.

Cô gập sổ lại.

– Cô gọi ba con rồi. – Cô nói với Thạch. Giọng cô thấp, chỉ đủ cho anh và Hảo nghe. – Tối qua. Ba con đang ở Hà Tĩnh.

– Ba nói sao cô?

– Ba con im một hồi lâu. Rồi ba con nói: "Để nó làm."

Thạch không nói được gì. Cô Lài nhìn anh, rồi nhìn vào bếp, nhìn cái lò than ngoài sân sau có một làn khói mỏng đang bốc lên. Cô quay ra cửa, không nói thêm. Ra tới bậc thềm, cô quay lại, nói to, cho cả quán nghe:

– Cho cô một dĩa thịt kho. Mỡ nhiều.

Tối thứ Tư, mùng một tháng Bảy, Thạch kho cá lần cuối cùng trước khi anh dám tin.

Nước màu thắng tới khi khói xanh đổi khói trắng. Cá bông lau ướp nước mắm nhĩ, đường thốt nốt, tiêu sọ đập dập, hành tím nguyên củ, một lát gừng nướng. Kho lửa ga lớn cho sệt. Đặt cái vỉ tre xuống đáy cái tộ niềng đồng, xếp cá lên. Dời ra lò than, riu riu hai tiếng. Mười một giờ đêm, đậy lên mặt cá một lá chuối khô cắt tròn của bà, đậy nắp, vùi vào tro nóng.

Anh không ngủ được. Hai giờ sáng anh xuống sân sau, ngồi cạnh lò than. Tro vẫn ấm. Một sợi khói mỏng như sợi chỉ bốc lên từ khe nắp tộ, thơm một mùi lạ, vừa ngọt vừa khét, như mùi rơm rạ đốt đồng ở quê mà anh chỉ biết qua lời bà kể.

Sáng thứ Năm, anh nhấc tộ lên. Mở nắp. Lá chuối khô đã cháy sém thành một lớp mỏng màu nâu đen, giòn, bóc ra nguyên tấm. Bên dưới, cá bông lau nằm nguyên khúc, thịt săn lại, màu nâu sậm bóng như gỗ gụ. Nước kho đã rút gần hết, chỉ còn một lớp sệt đặc quánh bám quanh thân cá. Anh gắp thử một miếng gần xương.

Anh đứng im giữa sân sau. Ông Bảy, không biết đã đứng ở cửa bếp từ lúc nào, nhìn anh không nói gì.

Bốn giờ chiều, anh hơ cái tộ trên lò than cho ấm lại, rắc tiêu, gõ đũa ba cái lên đai đồng, rồi bưng qua nhà số năm mươi hai.

Bà Năm ngửi trước. Bà ngửi lâu hơn mọi lần. Rồi bà cầm đũa, gắp miếng gần xương, đưa vào miệng.

Bà không nhai. Bà ngậm miếng cá trong miệng, mắt nhìn thẳng ra cửa, nơi nắng chiều tháng Bảy hắt vàng lên mấy chậu kiểng ngoài hiên. Một lúc lâu. Rồi bà nhai, chậm, rất chậm.

Mắt bà, cái mắt sắc ở bên phải, đỏ lên. Rồi một giọt nước chảy xuống, men theo nếp nhăn bên cánh mũi, rơi xuống mâm.

– Đúng rồi. – Bà nói. Giọng bà khàn đi. – Đúng rồi.

Thạch đứng im. Anh không dám ngồi xuống.

Bà Năm đặt đũa xuống, lau mắt bằng mu bàn tay. Rồi bà ngẩng lên nhìn anh, và cái nhìn của bà không còn là cái nhìn dò xét.

– Ai chỉ con lá chuối khô?

– Dạ, con tìm thấy trên gác bếp. Bà con cắt sẵn ba chục lá.

Bà Năm nhìn anh rất lâu.

– Chuyện lá chuối khô, – bà nói chậm, – chị Hai chỉ nói với tao… với thằng Hiển.

Sáng hôm sau, khi Thạch xuống bếp, cái móc sắt trống trên tường không còn trống nữa. Cái túi vải bố màu chàm treo trên đó, buộc bằng hai sợi dây da. Anh mở ra. Sáu con dao. Đủ.

Tráng đang rửa rau ở bồn, quay lưng lại. Anh không quay đầu.

— Hết chương 14 —

Mục lục Nồi cá kho ba lửa hẻm Cây Điệp

  1. 1Chén xốt bàn số bảy9 phút
  2. 2Tấm thẻ đỏ trong túi áo bếp12 phút đọc
  3. 3Ba giây12 phút đọc
  4. 4Ngày khai trương mười một dĩa10 phút đọc
  5. 5Bà khách thứ Năm11 phút đọc
  6. 6Con dao để chặt gà11 phút đọc
  7. 7Đá u-rê10 phút đọc
  8. 8Tấm thớt màu xanh lá10 phút đọc
  9. 9Tấm ảnh khai trương năm 200411 phút đọc
  10. 10Ba về giữa mùa mưa10 phút đọc
  11. 11Khách quen của bếp cũ10 phút đọc
  12. 12Máy lạnh ở đầu hẻm10 phút đọc
  13. 13Đêm sốt ở bệnh viện nhi11 phút đọc
  14. 14Ba chục lá chuối khô11 phút đọc
  15. 15Bốn giờ chiều thứ Năm10 phút đọc
  16. 16Tên một người tù trên đơn đăng ký11 phút đọc
  17. 17Ba mươi phút trong chợ11 phút đọc
  18. 18Chén xốt thứ hai11 phút đọc
  19. 19Người nếm thử ở cửa ra món12 phút đọc
  20. 20Ông già trên xe lăn12 phút đọc
  21. 21Hai cách kết một vụ kiện12 phút đọc
  22. 22Món của người nhà12 phút đọc
  23. 23Người thứ năm11 phút đọc
  24. 24Giấy triệu tập11 phút đọc
  25. 25Lửa trong hẻm11 phút đọc
  26. 26Bếp sáu mươi người11 phút đọc
  27. 27Ba của Thạch10 phút đọc
  28. 28Món nợ năm 200411 phút đọc
  29. 29Học bổng không phải học bổng12 phút đọc
  30. 30Lời thú nhận ở phòng khách ông Hòa10 phút đọc
  31. 31Món nợ trả bằng gì10 phút đọc
  32. 32Xin phép một ông già10 phút đọc
  33. 33Ba lửa12 phút đọc
  34. 34Hạng nhì10 phút đọc
  35. 35Thứ Năm ở bệnh viện10 phút đọc
  36. 36Keng keng keng10 phút đọc

Về truyện này

Nồi cá kho ba lửa hẻm Cây Điệp là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Đức của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →