Chương 30: Lời thú nhận ở phòng khách ông Hòa
Ông Hòa rót trà bằng tay trái, tay phải giữ nắp ấm. Thạch để ý trên cổ tay ông có một sợi dây đeo màu đỏ, loại dây người dị ứng nặng hay đeo để người khác biết, với một cái thẻ kim loại nhỏ khắc chữ.
– Mời. – Ông nói. – Trà ô long. Không có gì trong đó ngoài lá trà.
Ông nói câu cuối bằng giọng bình thường, không đùa. Thạch không biết nên cười hay không. Anh cầm chén trà lên.
Căn nhà vườn của ông Hòa ở phía đông thành phố, sát một nhánh sông, cổng sắt sơn đen, sân trải sỏi trắng, một cây khế già trĩu trái. Phòng khách rộng, trần cao, cửa kính nhìn ra mặt sông có mấy cây dừa nước. Mười giờ sáng thứ Hai, hai mươi sáu tháng Mười. Bốn người ngồi quanh cái bàn trà bằng gỗ: ông Hòa, vợ ông, chị Lan, Thạch.
Ngà ngồi riêng trên một cái ghế đơn sát cửa kính, áo khoác hồng gấp trên đùi.
Tối thứ Sáu, sau khi chị Lan gọi, Thạch đã đi qua phòng trọ của Hảo, nơi Ngà ở tạm. Anh không xin Ngà đi. Anh chỉ kể cho cô nghe: chị Lan sẽ tới nhà ông Hòa sáng thứ Hai, chị sẽ tự nói chị múc xốt. Ngà ngồi im rất lâu, nghe Khế đọc bài tập vần ở góc phòng. Rồi cô nói: "Em đi. Chuyện của em, em nói."
Vợ ông Hòa là một phụ nữ ngoài năm mươi, tóc nhuộm nâu, áo lụa xanh ngọc. Bà ngồi thẳng lưng, không uống trà. Thạch nhận ra bà: người đã lục tung cái túi xách của chồng tối mùng bảy tháng Ba, hất văng ví, chìa khóa, kính. "Cây bút! Anh Hòa, cây bút đâu!"
Chị Lan đặt chén trà xuống.
– Thưa anh chị. – Chị nói. – Hôm nay tôi tới không phải với tư cách giám đốc Mộc Lan Đài. Luật sư của công ty không biết tôi tới. Tôi tới để nói một chuyện mà lẽ ra tôi phải nói từ tháng Ba.
Ông Hòa gật đầu, không nói gì.
Chị Lan kể. Thạch đã nghĩ chị sẽ kể bằng cái giọng gọn của người đọc biên bản. Không phải. Chị kể chậm, có chỗ dừng lại rất lâu, có chỗ phải nói lại từ đầu câu. Bảy giờ bốn mươi mấy. Cửa ra món. Khay bàn bảy. Cái muỗng nếm. "Sao chén này khác mấy bàn kia." Cái thùng nhựa trắng, cái muỗng múc treo trên thành. Khuấy hai vòng. "Vậy mới giống."
– Tôi không biết anh dị ứng. – Chị nói. – Tôi không biết chén đó được pha riêng. Tôi tin xốt nền không có đậu phộng vì giấy chứng nhận ghi vậy. Nhưng tôi đã nếm một chén xốt không phải của tôi, chê nó, và thay đổi nó, mà không hỏi người pha. Tôi đã làm vậy. Anh suýt chết ở bàn của tôi vì tôi đã làm vậy.
Chị không khóc. Hai bàn tay chị đặt trên đầu gối, co lại.
– Rồi tôi để một người khác chịu thay. – Chị nói. – Không phải vì tôi muốn vậy. Nhưng tôi đã ngồi ở đầu bàn họp kỷ luật, và tôi đã ký.
Vợ ông Hòa nhìn chị Lan. Rồi bà quay đi, nhìn ra mặt sông.
Ông Hòa không nói gì. Ông rót thêm trà vào chén mình, rồi vào chén chị Lan, dù chị chưa uống.
Thạch mở cái túi vải đeo chéo. Anh đặt lên bàn trà hai tờ giấy. Tờ kết quả kiểm nghiệm xốt me của chuỗi Mộc Lan Cơm Nhà, tháng Tám, có con dấu đỏ. Tờ kết quả kiểm nghiệm xốt nền ở kho lạnh Mộc Lan Đài, tháng Mười, chị Lan đã đưa anh tối thứ Bảy.
– Dạ, hai mẫu. – Anh nói. – Một mẫu con gửi. Một mẫu chị Lan gửi. Hai trung tâm khác nhau. Cùng một nhà cung cấp. Cả hai đều có đậu phộng. Xốt me của họ không có đậu phộng trong công thức. Đậu phộng nằm trong cái bồn trộn, họ dùng chung với tương đậu phộng mà súc không kỹ.
Ông Hòa cầm hai tờ giấy lên. Ông đọc như người quen đọc hợp đồng: dòng đầu, dòng cuối, rồi mới tới giữa. Ông đọc tên trung tâm, ngày lấy mẫu, phương pháp xét nghiệm.
– Mẫu tháng Ba không còn. – Ông nói, không phải câu hỏi.
– Dạ không còn.
Ở cửa kính, Ngà đứng dậy.
– Dạ thưa chú. – Cô nói. Giọng cô run, nhưng không nhỏ. – Mẫu tháng Ba không còn vì con đổ nó.
Ông Hòa quay lại nhìn cô. Vợ ông cũng quay lại.
Ngà kể. Cô đứng nói, không ngồi, hai tay cầm cái áo khoác hồng gấp lại trước bụng như cầm một cái khay. Cô kể chuyện đứng ở trạm cuốn gỏi, thấy chị Lan nếm và múc. Chuyện vào kho lạnh lúc mười giờ kém mười kể với anh Long. Cú điện thoại lúc một giờ rưỡi sáng. Cái cống sau bếp. Đổ tới đâu khóc tới đó. Năm trăm ngàn phụ cấp tuần sau. Buổi họp kỷ luật, cô lắc đầu.
– Con nói thật mà con biết con đang nói dối. – Cô nói, đúng câu cô đã nói với Thạch ở bờ kênh. – Con xin lỗi chú. Con không xin chú bỏ qua. Con chỉ xin lỗi.
Ông Hòa nhìn cô rất lâu. Rồi ông nói, giọng nhẹ:
– Cháu ngồi xuống đi. Đứng vậy mỏi chân.
Ngà ngồi xuống. Cô cúi đầu.
Vợ ông Hòa lên tiếng, lần đầu tiên từ khi họ vào nhà.
– Cô Lan. – Bà nói. Giọng bà không to, nhưng rõ từng chữ, như giọng người đã tập câu này rất lâu. – Cô có biết tối đó tôi lục cái túi của anh Hòa bao lâu không? Tôi không biết. Tôi chỉ biết tôi lục mà không thấy. Tôi nghe anh ấy thở như gió rít qua khe cửa. Tôi nghĩ: cây bút đâu, cây bút đâu, ba mươi năm anh ấy mang theo cây bút đó đi đâu cũng mang, sao tối nay không thấy.
Bà quay sang Thạch.
– Rồi cậu nói "túi áo vest". Tôi không biết cậu là ai. Cậu đeo tạp dề. Cậu nói đúng ba chữ đó.
Thạch không biết nói gì. Anh nhớ mình đã nói câu đó mà không biết vì sao mình biết.
– Từ tháng Ba tới giờ, mỗi lần nghĩ tới tối đó, tôi nhớ hai thứ. – Bà nói. – Tiếng anh Hòa thở. Và ba chữ của cậu. Tháng Bảy nhà hàng trả lời luật sư của chúng tôi, nói lỗi là do một nhân viên cũ đã bị sa thải. Họ nêu tên. Tôi đọc cái tên đó, tôi không biết là cậu.
Chị Lan cúi đầu.
Ông Hòa đặt hai tờ kết quả kiểm nghiệm xuống bàn trà, xếp ngay ngắn, cạnh nhau. Rồi ông nhìn Thạch.
– Anh Thạch, tôi hỏi anh một câu.
– Dạ.
– Cái lá ngò trên chén xốt. Cắt hình chữ V. Là của anh?
Thạch sững lại. Anh không nghĩ ông nhớ. Anh không nghĩ có ai ngoài bếp nhìn thấy cái lá ấy.
– Dạ. – Anh nói. – Dấu của con. Chén nào con pha riêng cho khách có yêu cầu thì con cắm một lá ngò cắt chữ V, để người ở cửa ra món biết không được đổi.
Ông Hòa gật đầu chậm.
– Ba mươi năm tôi đi ăn ở đâu cũng hỏi. – Ông nói. – Món này có đậu phộng không, dầu gì, chiên chảo nào. Người ta cười, tôi vẫn hỏi. Tối đó chén xốt đặt xuống trước mặt tôi, tôi thấy cái lá ngò cắt hình chữ V. Tôi nghĩ: có người trong bếp biết tôi ngồi đây. Có người làm riêng cho tôi. – Ông dừng lại. – Nên tôi không hỏi. Ba mươi năm, đó là lần đầu tôi không hỏi.
Thạch cúi đầu. Anh mở cái túi vải đeo chéo lần nữa, lấy ra một mẩu giấy nhỏ màu đỏ đã bạc gần thành hồng, nhăn, chữ nhòe hết chỉ còn nửa chữ "đậu" và một vệt mực xanh loang. Anh đặt nó lên bàn trà, cạnh hai tờ kết quả.
– Dạ, đây là tấm thẻ dị ứng của bàn chú. – Anh nói. – Con ghim nó trên thanh sắt ngay đầu thớt con, cho con thấy. Con không để nó lên khay. Ngoài cửa ra món không ai thấy nó. Chị Lan không thấy nó. Nếu nó nằm trên khay, có khi chị đã không múc.
Anh ngẩng lên.
– Con không làm chén xốt bẩn. Nhưng con giữ cái thẻ cho riêng con. Cái đó là lỗi của con.
Chị Lan quay sang nhìn anh. Ngà ngẩng đầu lên. Vợ ông Hòa nhìn mẩu giấy đỏ bạc màu trên bàn rất lâu.
Ông Hòa không cầm tấm thẻ lên. Ông chỉ nhìn nó.
– Anh giữ nó tới giờ.
– Dạ. Nó trong túi áo bếp. Con giặt nó trong máy giặt. Con phơi nó lên. Con không biết sao con không bỏ.
Ông Hòa im lặng. Ngoài mặt sông, một chiếc ghe chở cát chạy ngang, tiếng máy dầu ì ạch, sóng đánh vào mấy gốc dừa nước.
– Cô Lan. – Ông nói, quay sang chị. – Cô định làm gì?
Chị Lan nói. Rút đơn kiện anh Thạch ở Tòa. Hủy quyết định sa thải, xác nhận bằng văn bản anh Thạch không có lỗi. Báo cơ quan quản lý an toàn thực phẩm về Phúc Hưng Thịnh, đình chỉ hợp đồng, thu hồi toàn bộ xốt nền ở nhà hàng và chuỗi. Bếp trưởng Long đã nộp đơn xin nghỉ sáng nay. Về yêu cầu bồi thường của anh chị, công ty sẽ làm việc với luật sư của anh chị, không né.
– Chuỗi Mộc Lan Cơm Nhà thì sao? – Ông Hòa hỏi.
– Tôi không biết. – Chị Lan nói. – Không có vốn của anh thì tôi không mở thêm được. Có khi tôi phải đóng bớt.
Ông Hòa gật đầu. Ông không nói gì về chuyện vốn. Ông không nói gì về chuyện bồi thường. Ông cầm ấm trà, rót thêm cho Ngà, cho Thạch.
– Tôi đòi nhà hàng bồi thường không phải vì tiền. – Ông nói, sau một lúc. – Tôi đòi vì họ trả lời rằng lỗi là của một người đã bị đuổi. Câu đó nghe gọn quá. Làm ăn ba mươi năm, câu nào nghe gọn quá thì tôi không tin.
Ông nhìn chị Lan.
– Câu cô nói hôm nay không gọn. – Ông nói. – Tôi tin.
Chị Lan cúi đầu. Lần này vai chị run.
Khi họ đứng dậy ra về, ông Hòa tiễn ra tận cổng sắt. Vợ ông đứng ở hiên, nhìn theo. Ngà đi trước, Thạch đi sau. Chị Lan đã ra tới chiếc ô tô màu trắng đậu ngoài đường.
– Anh Thạch.
Thạch quay lại. Ông Hòa đứng trong cổng, một tay đặt trên song sắt, sợi dây đỏ ở cổ tay.
– Tôi đọc bài báo về vụ cháy trong hẻm của anh. – Ông nói. – Có tấm ảnh chụp từ phía sau, một người múc cháo trên lò than. Trên cái kệ gạch cạnh lò, có một cái tộ đất úp miệng. Đai đồng quanh miệng, có vết búa.
Thạch đứng im.
– Hai mươi năm nay tôi ăn cá kho tộ Mộc Lan không biết bao nhiêu lần. Tôi dẫn khách nước ngoài tới. – Ông Hòa nói. – Tộ ở đó đai đồng trơn láng. Không có vết búa.
Ông nhìn Thạch, cái nhìn của một người đã đọc hợp đồng ba mươi năm, đọc dòng đầu, dòng cuối, rồi mới tới giữa.
– Còn một chuyện. – Ông nói. – Cái tộ niềng đồng ở nhà hàng cô Lan… là của ai?
— Hết chương 30 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe