Chương 34: Mặt đất chờ
Ở bến tàu cứu hộ của trung tâm Mũi Én, mười giờ đêm hai mươi chín tháng Chạp, có một bà già người Bạch Sa ngồi trên cái ghế nhựa xanh. Bà quấn khăn len kín đầu, hai tay ôm một cái giỏ cói. Trong giỏ có một nồi cháo cá còn ấm, bọc trong ba lớp khăn. Người của trung tâm đã đón bà từ làng Cồn Rươi lúc chiều. Bà không chịu ngồi trong nhà chờ. Bà nói ngồi trong nhà thì không thấy biển.
Gió đã yếu. Biển vẫn còn sóng, những con sóng dài, xám, đập vào chân cầu tàu thành những tiếng ục ục như ai gõ vào cái lu rỗng. Ngoài khơi, cách hai mươi cây số, con tàu cứu hộ của trung tâm đã thả neo từ bốn giờ chiều, đèn pha bật sáng, chờ một cái chấm rơi từ trên trời xuống.
Bà Thơ không biết cái chấm ấy sẽ rơi thế nào. Bà chỉ biết trong đó có con gái bà và thằng cháu ngoại bà chưa từng bế từ năm nó một tuổi.
Trong phòng trực, Thạch Sô Phia không ngồi.
Chị đứng giữa phòng, trước cái màn hình lớn trên tường, nơi ba cái chấm đang di chuyển. Chấm thứ nhất, màu xanh, là khoang thoát Hồng Hạc 4, đã hãm lúc mười giờ hai mươi, đang rơi về phía tây nam, về phía Mũi Én. Chấm thứ hai, màu vàng, là khoang thoát Hồng Hạc 2, đang rơi về phía đông bắc, ngoài khơi Cửa Rạn. Chấm thứ ba, màu đỏ, ở giữa hai cái kia, gần bờ hơn cả, là một chiếc xe bay chở khách đời bốn mươi lăm, khung nhôm, ngồi trong lòng một cái nón vải chưa từng bay thử lần nào.
Quách Thị Mơ ngồi ở bàn của Khẩn, hai tay đan vào nhau đặt trước miệng. Chị chưa về nhà từ chiều hai mươi tám. Khẩn ngồi bên cạnh, mắt dán vào màn hình. Cô Lộc ở bàn đường dây nóng không có cuộc gọi nào, mà cô vẫn đeo tai nghe.
Mười giờ năm mươi hai, khoang thoát Hồng Hạc 4 vào khí quyển. Liên lạc tắt. Bốn phút. Năm phút. Sô Phia không thở.
Mười giờ năm mươi tám, một giọng phụ nữ máy móc vang lên trên kênh chung, đều đều, vô cảm, mà cả phòng trực nghe như tiếng hát:
"Khoang thoát Hồng Hạc 4. Dù chính đã bung. Độ cao bốn nghìn mét."
Rồi một giọng khác, nhỏ, run, giọng Bạch Sa pha Bắc:
– Chị Phia ơi… em đây… Bưởi đây… con em nó bảo… nó bảo ngoài kính có mây…
Mười một giờ lẻ năm, khoang thoát rơi xuống biển cách con tàu cứu hộ chưa tới hai cây số. Sô Phia nghe qua bộ đàm tiếng máy tàu gầm lên, tiếng người hô, tiếng sóng. Mười một giờ hai mươi, giọng bác sĩ Y Lâm từ boong tàu, chậm, tròn, như hạt cà phê:
– Chị Phia. Hai mẹ con trên tàu rồi. Cháu hết sốt. Cháu tỉnh. Cháu hỏi bánh chưng của bà ngoại có bị ướt không. Không ướt. Cháu ôm nó suốt.
Có tiếng ai đó trong phòng trực bật cười, rồi bật khóc, rồi im.
Ở bến, người của trung tâm cúi xuống nói vào tai bà Thơ. Bà già không đứng dậy. Bà chỉ cúi đầu, ôm chặt cái giỏ cói vào ngực, và lần đầu tiên trong đời, trước mặt người lạ, bà khóc thành tiếng.
Ở xóm Hói Cát, tỉnh Cửa Rạn, cái sân phơi nhà Đậu Văn Hưỡng đã chật người từ chín giờ tối.
Người ta mang ghế nhựa ra. Người ta mang chiếu ra trải trên bãi đáp đất nện. Ông trưởng xóm mang cái loa cầm tay. Bà Nhỏn mang nồi chè đậu đen. Ai cũng biết đêm nay là giao thừa, mà không ai ở nhà cúng giao thừa. Họ sẽ cúng ở đây, khi người cần về đã về.
Hồ Thị Xoan ngồi trên bậc thềm, dưới mái hiên. Bên cạnh chị là bó tre chưa chẻ, dựng vào cột, buộc bằng hai sợi dây chuối khô. Chị không nhìn nó. Chị nhìn cái điện thoại trên tay, nơi Vy đã mở cái trang mạng của những người mê thiên văn, nơi có một chấm đỏ đang di chuyển trên một tấm bản đồ, mỗi lúc một gần bờ.
– Mười một giờ mười hai – Vy đọc. – Nó vào khí quyển. Người ta nói từ giờ mất liên lạc mấy phút.
Mạ chồng Xoan ngồi trên cái ghế nhựa giữa sân, quấn chăn, hỏi to: "Thằng Hưỡng về chưa?" Không ai trả lời bà. Thằng cu Tỏi đứng ở mép bãi đáp, tay cầm cây đèn pin to có quai đeo của bố, cái đèn nó đã vẫy lên trời đêm hai mươi lăm. Nó không bật đèn. Nó chỉ cầm.
– Mạ ơi – nó hỏi. – Con Gà Mái có biết đường về không?
– Biết – Xoan nói. – Năm nào nó cũng về.
Rồi chị làm một việc mà chính chị cũng không định làm. Chị kéo bó tre lại gần, cởi hai sợi dây chuối, rút ra một cây, đặt lên đùi. Chị lấy con dao rựa nhỏ dưới gầm phản, cái dao năm nào anh Hưỡng cũng mài lại cho chị chiều hai mươi sáu. Chị chẻ.
Bà Nhỏn nhìn chị.
– Mi chẻ chi giờ ni? Bánh gói rồi.
– Cho có việc bà.
Chị chẻ cây tre làm đôi, làm tư, làm tám. Rồi chị tước lạt, từng sợi, mỏng, đều, cái động tác mà tay chị đã thuộc từ năm mười tuổi. Những sợi lạt xanh rơi xuống bậc thềm, rơi thẳng, nằm yên, vì ở đây là mặt đất. Bà Nhỏn ngồi xuống cạnh chị, không nói gì, nhặt từng sợi lạt lên, vuốt cho thẳng, xếp thành bó. Thằng cu Tỏi đứng ở mép bãi đáp quay lại nhìn mạ nó, rồi lại quay lên trời.
Chị để dành nửa bó. Nửa bó ấy là của anh.
Ở làng Cát Sen, xã Triệu Hòa, tỉnh Đông Trạch, Đặng Thị Hạp đứng một mình giữa sân.
Chồng chị và hai đứa con ngồi trong nhà, trước cái tivi. Chị không vào. Từ đêm hai mươi bảy, đêm chị thấy ngôi sao của anh trai mình bay qua làng và nháy ba lần, chị không ngồi được trong nhà vào lúc gần nửa đêm nữa.
Trên bàn thờ trong nhà, hương đã thắp. Trước tấm ảnh anh Vận, chị đặt một đĩa kẹo cu đơ, một chén chè, một bát cơm không hành. Trong túi áo chị có một bó nhang mới và một cái vỉ nhỏ có hai cục pin, mua ở chợ xã chiều nay theo lời mạ dặn qua máy tối qua.
Trời Đông Trạch đêm nay không có mây. Từ hôm gió mùa thổi sạch mây, trời quang như lau, cái kiểu quang mà người làng gọi là trời của ông bà.
Mười một giờ hai mươi bốn, chị thấy nó.
Nó tới từ phía tây bắc như mọi lần. Một ngôi sao sáng, đi nhanh hơn mọi ngôi sao khác, mà chậm hơn hồi anh chị còn sống. Nó tới gần đỉnh trời.
Nó nháy. Một lần. Tắt. Một lần. Tắt. Một lần. Tắt.
Hạp chắp tay. Chị định khấn như mọi lần, "anh ơi, em thấy rồi". Rồi chị dừng lại.
Phía dưới ngôi sao, thấp hơn, nghiêng về phía biển, có một vệt lửa.
Không phải sao băng. Sao băng thì vụt qua trong một cái chớp mắt. Cái này không vụt. Nó trôi, chậm, rực đỏ, một đốm lửa to bằng hạt đậu, kéo theo sau một cái đuôi dài màu cam nhạt dần, như một cục than hồng ai ném từ trên trời xuống mà ném nhẹ tay. Nó trôi ngang trời Cát Sen, từ tây sang đông, xuống thấp dần, về phía biển.
Hạp đứng nhìn cái vệt lửa ấy cho tới khi nó tắt sau rặng phi lao. Rồi chị nhìn lên. Ngôi sao của anh chị đã đi qua, đang nhỏ dần về phía đông nam.
Chị không biết cái vệt lửa ấy là gì. Chị chỉ biết, sau này chị kể với mạ chị, là trong một phút ấy, anh chị và cái vệt lửa đi cùng nhau trên trời làng mình. Một cái ở trên, một cái ở dưới, như người ta đi dắt nhau.
Ở Mũi Én, mười một giờ hai mươi tám, Thạch Sô Phia nhìn đồng hồ.
– Hết thời gian mất liên lạc của xe – Khẩn nói. Giọng cậu ta khô. – Theo tính thì giờ phải có tín hiệu.
Không có tín hiệu.
Mười một giờ ba mươi mốt, giọng máy của khoang thoát Hồng Hạc 2 vang lên: dù chính đã bung, bốn nghìn mét. Rồi giọng Lưu Hạnh Thu, khàn, mệt, rõ từng chữ: khoang thoát Hồng Hạc 2 đã rơi xuống mặt biển ngoài khơi Cửa Rạn, hai người, không ai bị thương. Bà Chiu đang ngồi cạnh cô. Có đèn của tàu cá đang tới.
– Xe chú Hưỡng – giọng bà Chiu chen vào, từ sau lưng Thu. – Xe chú Hưỡng về chưa con?
Sô Phia không trả lời được.
Mười một giờ ba mươi lăm. Không có gì. Cái chấm đỏ trên màn hình lớn đã đứng yên ở một chỗ ngoài khơi Đông Trạch, cách bờ chừng ba mươi cây số. Ra-đa đồi sau không bắt được nó nữa từ hai phút trước. Cái chấm đứng yên là chấm cuối cùng mà ra-đa thấy.
Quách Thị Mơ đứng dậy khỏi ghế. Chị đi tới bức tường kính, đứng đó, nhìn ra biển đen. Sô Phia đi tới đứng cạnh chị.
– Lớp vải chịu nóng có thể đã chịu được – chị Mơ nói, không quay sang. – Có thể dù phụ đã bung. Có thể máy liên lạc hỏng vì nóng. Có thể ra-đa mất dấu vì cái xe xuống thấp quá, bị núi che. Có thể.
– Chị Mơ.
– Có thể tôi đã tính sai một con số.
Sô Phia không nói gì. Chị nghĩ tới tờ biên bản kết thúc tìm kiếm mà chị đã ký mười bốn tháng trước, nét chữ của chính chị. Chị nghĩ tới con trai chị năm bảy tuổi, chạy theo con sóng, và mười mét chị đã chạy. Chị nghĩ: lần này chị không có mười mét nào để chạy. Chị chỉ có một cái phòng trực, một bức tường kính, và một cái kênh khẩn đang rè.
– Khẩn – chị nói. – Mở hết các kênh khẩn. Kênh bãi đáp. Kênh dân sự. Kênh của xe bay. Mở hết. Vặn to.
Khẩn mở. Phòng trực ngập trong tiếng rè, hàng chục thứ tiếng rè chồng lên nhau, như tiếng mưa rơi trên mái tôn của cả một xóm.
Mười một giờ ba mươi chín.
Mười một giờ bốn mươi.
Mười một giờ bốn mươi mốt, trong đám tiếng rè ấy, có một tiếng người.
Không phải gọi Mũi Én. Không phải gọi trung tâm cứu nạn. Một giọng đàn ông, khàn, đứt quãng, giọng Cửa Rạn đặc sệt, gào lên trên cái kênh của xe bay dân sự. Mười một năm nay người ta dùng kênh ấy để gọi nhau khi pin tụt giữa đèo, khi lạc đường giữa biển, như người ta đứng trên bờ ruộng gọi vọng về làng:
– … Hói Cát ơi… Hói Cát ơi… Con Gà Mái đây…
— Hết chương 34 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe