Chương 10: Bốn mươi lăm phút đêm
Đêm trên quỹ đạo dài bốn mươi lăm phút, và cứ mỗi lần đêm xuống, mặt kính của Con Gà Mái lại nở hoa.
Không phải hoa thật. Là hơi thở của sáu con người, bám lên mặt kính lạnh, đông lại thành những đường vân trắng mảnh như lông chim, như lá dương xỉ, như những cái cây nhỏ mọc ngược. Thằng Chít lấy móng tay vẽ lên đó một con mèo. Con mèo tan đi khi nắng trở lại. Đêm sau nó vẽ một con khác.
Sáng hai mươi sáu, trong xe chỉ còn mười hai độ. Cả xe mặc hết áo khoác, quấn hết chăn, khăn quàng của Bưởi quấn quanh đầu thằng Chít như cái mũ len. Bà Chiu mặc cái áo khoác màu xanh than thêu hình con hồng hạc, cái áo bà lấy ra từ hộp thiếc lúc nửa đêm, khi bà lạnh quá không chịu nổi. Áo rộng thùng thình, tay áo dài tới đầu ngón tay. Bà xắn lên hai vòng.
– Áo của thằng Vận – bà nói, khi thấy Hưỡng nhìn. – Nó mặc thì vừa. Tui mặc thì như mặc cái chăn.
– Ấm không bà?
– Ấm.
Tám giờ sáng, giọng Thu vang lên trong loa. Từ sau chuyện đêm qua, cô không còn đùa câu nào, chỉ nói việc.
– Tôi báo tình hình điện. Pin của tàu còn một trăm bảy mươi kí-lô-oát giờ. Mỗi giờ tôi dùng chừng hai, cho máy sưởi khoang lái, cho quạt đẩy khí sang xe, cho máy lọc, cho liên lạc. Xe anh Hưỡng tự sưởi bằng pin của xe, còn bao nhiêu?
– Bảy mươi ba phần trăm – Hưỡng đọc.
– Đêm nào cũng lạnh thế này thì xe anh tụt nhanh. Trong khoang có hai xe mới, mỗi xe một trăm hai mươi kí-lô-oát giờ, sạc ba mươi phần trăm để chở hàng. Tôi sẽ ra ngoài, nối dây từ hai xe ấy sang lưới điện của tàu, rồi nối một đường sang xe anh. Có thêm bảy chục kí-lô-oát giờ, đủ cho mọi người khỏi chết rét tới lúc Én Bạc lên.
– Chị lại ra ngoài à? – Bưởi hỏi.
– Ra.
– Chị mới ra hôm qua.
– Thì hôm nay ra tiếp. – Rồi giọng Thu dịu đi một chút, rất ít. – Lần này không phải đuổi theo cái gì đang trôi. Chỉ là đi từ đầu khoang tới cuối khoang. Như đi chợ.
Chín giờ, cô ra. Từ trong xe, họ thấy cánh cửa nhỏ ở đầu khoang mở ra, cô cơ trưởng trong bộ áo trắng ngà bơi vào, sợi dây an toàn kéo theo sau lưng như cái đuôi. Lần này cô không đạp mạnh, không bay. Cô đi bằng tay, nắm từ tay vịn này sang tay vịn khác, như người leo vách đá, chậm rãi, chắc chắn, chân luôn ở sau tay.
Cô tới chiếc xe mới thứ nhất. Cô rút con dao ở hông áo, rạch lớp nhựa trắng bọc ngoài. Lớp nhựa không rơi xuống. Nó nở ra, xoè ra, trôi lơ lửng như một con sứa khổng lồ. Cô phải gom nó lại, cuộn tròn, nhét vào khe giữa hai cái giá cho khỏi bay vào mặt.
Dưới lớp nhựa là một chiếc xe màu bạc, mới tinh, đẹp hơn Con Gà Mái gấp mấy lần.
– Xe đó bao nhiêu tiền hả chú? – thằng Chít hỏi.
– Bằng tiền chú lái mười năm – Hưỡng nói.
– Thế sao chú không mua?
– Vì chú lái mười năm mà chưa để ra được đồng nào.
Bưởi liếc anh. Anh làm như không thấy.
Thu mở nắp cổng sạc của chiếc xe bạc, kéo từ cái hộp trên vách khoang ra một sợi cáp đen to như cổ tay, cắm vào. Rồi chiếc thứ hai. Rồi cô kéo một sợi cáp thứ ba, dài hơn, chậm rãi đưa nó qua những tay vịn, những cái móc, tới bên hông Con Gà Mái, cắm vào cổng sạc của xe. Trên bảng điều khiển, một cái đèn nhỏ chuyển xanh. Trợ lý xe nói: "Cục tác. Đang nhận điện ngoài."
– Hay quá – thằng Chít nói. – Con gà được ăn.
Trên đường quay về, Thu dừng lại ở góc khoang, chỗ mười hai cái thùng gỗ xếp chồng dưới dây chằng. Cô đưa tay sờ lên một cái thùng, như người ta sờ lên lưng con bò trước khi dắt nó ra đồng. Rồi cô cúi sát cái mũ chụp vào mặt thùng.
– Trên thùng có ghi chữ – cô nói qua bộ đàm. – "NL-3. Viện Vũ trụ Mũi Én. Hàng thử nghiệm. Không lật ngược." Có cái hình vẽ như cái phễu. Anh Nhựt, đêm qua anh hỏi tôi cái này. Anh biết nó là gì đúng không?
Nhựt im một lúc.
– Dạ – cậu ta nói. – Em đoán là Nón Lá.
– Nón lá?
– Dạ. Ở Mũi Én ai cũng gọi vậy. Đó là lá chắn nhiệt bơm hơi. Bình thường tàu từ trên quỹ đạo rơi về đất thì phải có tấm chắn cứng ở dưới bụng, chịu lửa, nặng lắm. Cái này thì khác. Nó làm bằng mấy vòng ống vải đặc biệt, gấp lại nhỏ như cái dù. Lúc cần thì bơm khí vô, mấy vòng ống phồng lên, xoè ra thành một cái nón to, rộng sáu mét. Trên mặt nón phủ một lớp vải chịu nóng. Tàu nấp sau cái nón đó mà rơi xuống. Người ta làm hình nón vì hình nón rơi êm, lửa trượt qua hai bên. Nhìn từ dưới lên thì y như cái nón lá úp ngược.
– Sao anh biết nhiều thế?
– Dạ, em đọc báo. Người ta đăng hoài.
Thu không nói gì. Qua tấm kính mũ chụp, từ xa, Hưỡng không thấy được mặt cô. Anh chỉ thấy cô dừng lại thêm vài giây bên những cái thùng, rồi đi tiếp bằng tay, về phía cánh cửa nhỏ ở đầu khoang.
– Nó có dùng được không? – Hưỡng hỏi Nhựt khi Thu đã vào trong. – Cái nón đó?
– Dạ, chưa ai thử. Viện chở nó về là để bay thử lần đầu. Hông biết nó có chịu nổi hông.
– Mà nếu dùng được thì sao?
Nhựt nhìn ra những cái thùng gỗ. Cậu ta không trả lời.
Buổi trưa trôi qua chậm như nước nhỏ giọt từ mái hiên. Có điện từ hai chiếc xe bạc, trong xe ấm dần lên, mười lăm độ, mười sáu độ. Thằng Chít cởi cái khăn quàng trên đầu, đòi chú Hưỡng dạy nó bay. Không gian trong xe chỉ bằng cái giường đôi, nhưng một đứa trẻ hai mươi hai cân thì chỉ cần thế. Hưỡng tháo dây cho nó, chỉ cho nó cách đẩy nhẹ một ngón tay vào trần xe để trôi xuống sàn, đẩy nhẹ vào sàn để trôi lên trần. Nó lộn một vòng giữa không trung, tóc dựng ngược, cười sằng sặc. Bưởi la oai oái, sợ nó đá vào bảng điện. Bà Chiu ngồi nhìn, miệng cười, tay vẫn ôm cái hộp thiếc.
Đến chiều, Bưởi mở cái túi đồ nghề của mình, cái túi da nhỏ chị mang theo từ tiệm làm móng ở Nordvik vì không nỡ bỏ lại. Trong đó có mấy lọ sơn móng, cái dũa, cái kìm cắt da, cái đèn hong khô to bằng bao thuốc lá.
– Bác cho cháu làm móng tay cho bác nhá – chị nói với bà Chiu. – Ngồi không mãi cháu sợ cháu nghĩ lung tung.
– Tui già rồi, làm chi.
– Già thì càng phải làm. Tết mà bác.
Bà Chiu nhìn đôi bàn tay mình. Đôi bàn tay của người sáu mươi ba năm cấy lúa, nhổ cỏ, phơi muối, móng tay dày, sần, nứt ở đầu, có một cái móng út bị dập từ hồi nào không nhớ. Bà ngần ngừ, rồi chìa tay ra.
Bưởi cắt, dũa, mài. Chị làm rất nhanh, rất khéo, những ngón tay thoăn thoắt như bà Chiu ngày xưa đan lạt. Những mẩu móng vụn bay ra, Nhựt lại cầm cuộn băng dính đi bắt. Chị chọn một lọ sơn màu đỏ gạch, sơn mỏng, đều, rồi bật cái đèn nhỏ lên hong. Ánh đèn tím chiếu lên mười đầu ngón tay sần sùi.
– Hồi ở tiệm, khách bên đó hay chọn màu này – Bưởi nói. – Họ bảo màu Tết của người mình. Bác thấy có đẹp không?
Bà Chiu nhìn mười cái móng tay đỏ gạch của mình, lâu.
– Đẹp – bà nói. – Gần bốn chục năm rồi tui chưa sơn móng. Hồi cưới có sơn. Ông nhà tui chê, nói như móng con gà.
Hưỡng phì cười, rồi vội che miệng. Bà Chiu quay sang anh.
– Cười chi. Con gà nhà chú còn sơn đỏ cả người.
Lần này cả xe cười. Thằng Chít cười to nhất, dù nó không hiểu vì sao người lớn cười.
Gần bốn giờ chiều, lúc con tàu lại chui vào đêm, thằng Chít buồn ngủ, không chịu dựa vào mẹ, mà nằm co trong lòng bà Chiu, trên cái áo khoác xanh than rộng thùng thình. Bà vuốt tóc nó. Rồi bà ru. Giọng bà khàn, không hay, cái giọng của những bà già ở làng chỉ ru cho cháu chứ không ru cho ai nghe.
– Ầu ơ… Con đi qua mấy dặm trời… Mạ ngồi đầu ngõ đếm hoài sao bay… Sao mô sáng, sao mô cay… Sao mô nháy mắt là ngày con về… Ầu ơ…
Bưởi quay mặt ra cửa kính. Hưỡng cúi xuống, giả vờ xem bảng điều khiển. Nhựt nhắm mắt lại, hai bàn tay đan vào nhau đặt lên đùi, đan chặt tới mức các khớp ngón trắng bệch.
Ở khoang lái bên cạnh, Lưu Hạnh Thu nghe hết bài ru qua loa nội bộ. Cô đã cởi áo áp suất, đã treo nó lên cái móc sau ghế. Cô đã nạp lại ba lô dưỡng khí từ bình khoang lái và ghi con số vào sổ trực: ra ngoài lần hai, tốn bao nhiêu khí, còn bao nhiêu. Cô ngồi trong bóng tối, nghe bà Chiu ru, và không bật đèn.
Cô đang nghĩ tới chữ "Nón Lá".
Cô bay cho hãng Hồng Hạc bốn năm, đáp xuống Mũi Én hàng trăm lần, chưa từng nghe ai gọi cái gì là Nón Lá. Người đọc báo không biết những cái tên mà người ta gọi nhau trong một cái viện. Người đọc báo không hỏi về van chặn nhiên liệu chính trước khi tàu cất cánh. Người đọc báo không đọc thông số quỹ đạo nhanh như đọc số điện thoại.
Đúng bốn giờ chiều theo giờ nhà, một cái đèn nhỏ trên bảng liên lạc của khoang lái nháy xanh. Kênh riêng của hãng. Thu đeo tai nghe vào. Giọng Khúc Đình Nghị, nhẹ nhàng, nhã nhặn, như đang mời cô một tách trà.
– Chị Thu. Chị khoẻ chứ? Tôi gọi kênh riêng, chỉ chị nghe được thôi, chị đừng mở loa sang xe.
– Tôi không mở.
– Cảm ơn chị. – Một khoảng lặng ngắn. – Tôi hỏi chị một câu. Trong xe đó có một người tên Kha Minh Nhựt, phải không?
Thu nhìn qua tấm kính bên hông khoang lái, về phía chiếc xe đỏ trong khoang hàng. Từ đây cô chỉ thấy được nóc xe và một góc kính, nơi những bông hoa sương đang bắt đầu nở lại vì đêm vừa xuống.
– Phải – cô nói.
– Chị Thu – Nghị nói, và lần này giọng anh ta không còn giống mời trà nữa. – Chị cẩn thận với người đó.
— Hết chương 10 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe