Chương 30: Bốn ghế, sáu người
Sáng ba mươi Tết, người ta thường dậy sớm. Năm nay Tết không có ngày ba mươi. Sáng hai mươi chín tháng Chạp, ngày cuối cùng của năm Canh Thìn, trong chiếc xe đỏ không ai ngủ được từ lúc một giờ hai mươi.
Sáu giờ, chị Thu đọc các con số. Chị đọc như đọc giá lúa, không thêm, không bớt.
– Khí: nhờ Hồng Hạc 2, đủ cho sáu người tới khoảng mùng ba. Điện: pin tàu còn bốn mươi mốt kí-lô-oát giờ. Hai xe bạc còn chừng hai mươi. Xe anh Hưỡng còn sáu mươi phần trăm. Nếu tắt sưởi khoang lái, dồn hết sang giữ ấm cho xe, tắt mọi thứ không cần, thì đủ tới khoảng tối mùng hai. Sau đó thì như Hồng Hạc 2.
Chị không nói "như Hồng Hạc 2" là thế nào. Không ai cần chị nói.
– Én Bạc mười ngày – chị nói tiếp. – Tức là khoảng mùng chín, mùng mười. Chúng ta có hai khoang thoát. Khoang của Hồng Hạc 4, chính là khoang lái tôi đang ngồi. Khoang của Hồng Hạc 2, tối qua đã cắt chốt, đã sạc, đã báo sẵn sàng. Mỗi khoang hai ghế. Bốn ghế.
Hưỡng không cần đếm. Anh đếm từ hôm hai mươi sáu, mỗi đêm, trong đầu. Năm. Rồi sáu. Rồi năm cộng hai là bảy, bảy lớn hơn sáu, anh đã thở phào tối qua. Giờ thì bốn.
– Bốn ghế, sáu người – anh nói.
– Bốn ghế, sáu người – chị Thu nhắc lại.
Một khoảng im. Rồi chị nói tiếp, giọng không đổi:
– Tôi là cơ trưởng. Tôi ở lại. Đó là quy định. Còn một người nữa.
– Chị có con – Hưỡng nói. Anh đã nói câu này đêm hai mươi lăm. Anh nói lại. – Con chị sáu tuổi, nó cất tàu lá trong tủ lạnh chờ chị về gói bánh.
– Anh cũng có con.
– Xe của tui. Lỗi của tui. Tui chở chui. Nếu tui không chở thằng cu ni thì giờ là năm người, bốn ghế, một người ở lại. Mà một người đó là chị. Tui không để chị ở lại vì cái lỗi của tui.
– Không ai ở lại vì lỗi của ai cả – giọng chị Sô Phia, từ Mũi Én. Chị đã thức suốt đêm, giọng khàn như giấy nhám. – Chúng ta đang tính.
– Tính chi nữa chị – Hưỡng nói. – Bốn ghế.
Ở hàng ghế sau, bà Chiu mở mắt.
– Tui ở lại – bà nói.
– Bà…
– Chú im. Tui nói đêm hai lăm rồi. Giờ tui nói lại, mà lần ni có lý hơn. Con tui ở đây. Bốn mươi lăm mét. Tui ở lại với nó. Tui sáu mươi ba tuổi, tui sống đủ rồi.
– Bác không ở lại được – chị Thu nói, và lần đầu tiên từ sáng, giọng chị vỡ ra một chút. – Bác ở lại thì… bác ơi, ai về nói với chị Hạp. Ai ra sân ngó lên trời.
Bà Chiu không trả lời.
Rồi, từ cái loa, có một giọng mà cả xe đã không nghe từ gần nửa đêm. Chị Thu đã bật lại micrô ghế phải. Cậu Nhựt đã ra khỏi khoang đệm.
– Con ở lại.
Bưởi ngẩng phắt lên. Thằng Chít níu tay áo mẹ. Hưỡng nhìn cái loa.
– Con ở lại – Nhựt nói lần nữa. Giọng cậu ta không run. – Con hông có vợ con. Ba má con ở Vân Cảng có anh hai con lo. Con nợ. Con ở lại với anh Vận. Con ngồi đây mười ngày, chờ Én Bạc, được thì được, hông được thì…
– Không.
Bà Chiu nói. Một chữ. To, rõ, như tiếng bà gõ đũa xuống mâm.
– Mi không ở lại đây – bà nói. – Đây là chỗ con tui. Mi không được ngồi cạnh nó. Mi không được chết ở đây cho nhẹ lòng mi.
Không ai nói gì.
– Mi muốn trả nợ thì mi về – bà nói. – Mi về dưới đất mà trả. Ở trên ni chết thì sướng cho mi quá.
Loa im rất lâu. Rồi giọng Nhựt, rất nhỏ:
– Dạ.
Rồi một lúc nữa. Lâu. Lâu tới mức chị Sô Phia gọi tên chị Thu để kiểm tra đường truyền. Rồi Nhựt lại nói, nhưng lần này không phải với bà Chiu. Cậu ta nói với Mũi Én, bằng cái giọng mà Hưỡng đã nghe hôm hai mươi lăm, khi cậu ta nghĩ ra chuyện bắn dù chính: nhanh, gọn, như người vừa thấy một con đường trong bóng tối.
– Mũi Én. Chị Mơ có ở đó hông? Chị Quách Thị Mơ, bên Viện Vũ trụ.
Một giọng phụ nữ cất lên, giọng thủ đô, nhanh, cái giọng mà tối qua Thu đã nghe nói về hợp kim và giãn nở.
– Tôi đây. Tôi chưa về.
– Chị, em hỏi chị về NL-3. Mười hai cái thùng đang nằm trong khoang trước tàu tụi em. Nón Lá. Nó chịu được bao nhiêu?
Đầu dây im một giây.
– Thiết kế cho vật nặng tối đa hai tấn, đường kính khi bơm căng sáu mét hai. Chị biết anh định hỏi gì.
– Xe anh Hưỡng – Nhựt nói. – Xe bay sáu chỗ, đời bốn mươi lăm, khung nhôm. Tháo hết ghế sau, bỏ hết hành lý, thì xe nặng chừng một tấn bảy. Hai người. Nón Lá buộc dưới gầm. Dưới hai tấn. Xe kín, chịu chênh áp một át-mốt-phe, có bình khí riêng. Có dù phụ. Có sáu cái quạt. Xuống tới chỗ có không khí thì quạt bay được. Thì… thì là một cái xuồng thứ ba. Hai chỗ.
Trong xe đỏ, không ai thở.
Hưỡng nhìn xuống cái bảng điều khiển của Con Gà Mái. Cái bảng mà anh biết như biết lòng bàn tay mình. Anh nghĩ tới mười sáu năm cái xe này đã bay: chín năm với ông già người Bắc Lục, bảy năm với anh. Nghĩ tới cái hồ đóng băng. Nghĩ tới cái dù chính đã bung ra giữa chân không sáng hai mươi lăm, duỗi dài như dải lụa.
– Anh Nhựt – chị Mơ nói. Giọng chị không còn nhanh nữa. – Tôi phải nói rõ. NL-3 chưa bay thử lần nào. Chưa lần nào. Chúng tôi thử trong buồng nhiệt, thử trong ống gió, thử thả từ khí cầu ở độ cao ba mươi cây số. Chưa bao giờ đưa nó lên quỹ đạo rồi cho nó rơi về. Lần bay thử đầu tiên là tháng Ba, không có người, chở một khối bê tông. Đó là lý do nó nằm trên tàu của các anh.
– Dạ, em biết.
– Còn một chuyện nữa. Xe các anh không có động cơ hãm. Muốn rơi về, phải hãm cho nó chậm lại đã, hạ cái điểm thấp nhất của quỹ đạo xuống tới chỗ có không khí. Ở quỹ đạo các anh đang đi, cần hãm chừng năm mươi mét mỗi giây. Chị Thu, tàu chị còn bao nhiêu?
– Chưa tới mười – Thu nói. – Tôi dùng gần hết để giữ hai tàu khỏi va nhau từ hôm qua.
– Thì không được – chị Mơ nói. – Mười mét mỗi giây chỉ hạ được ba, bốn chục cây số. Nón Lá có to cũng không kéo nổi chiếc xe xuống từ chỗ đó trước mùng hai.
Lại im.
Bà Chiu nhìn cái loa. Bưởi nhìn bà Chiu. Thằng Chít nhìn mẹ, rồi thì thầm, đủ cho cả xe nghe:
– Mẹ ơi, cái nón không bay được à?
– Bay được – Nhựt nói, trên loa. Cậu ta đã nghe thấy. – Bay được, Chít. Chỉ cần ai đó đẩy nó một cái.
– Ai? – chị Mơ hỏi.
– Khoang thoát Hồng Hạc 2.
Hưỡng nghe ở Mũi Én có tiếng ghế đẩy lùi, tiếng ai đó, có lẽ là Khẩn, kêu lên một tiếng "à".
– Khoang thoát nào cũng có động cơ hãm – Nhựt nói. Cậu ta nói nhanh, mà rõ, từng ý một. – Đủ để đưa chính nó từ quỹ đạo về. Em nhớ thông số đời tàu đó: một mình nó, nó hãm được chừng chín mươi mét mỗi giây. Khoang thoát Hồng Hạc 2 đã cắt rời. Nó hông còn dính vô thân tàu. Mình buộc cái xe vô sau lưng nó. Lúc hãm, khoang thoát quay cái đáy lá chắn ra phía trước, phụt lửa ra phía trước, để tự hãm mình lại. Cái xe áp lưng vô sau lưng nó, bị đẩy hãm theo. Như… như đứa nhỏ ngồi sau lưng mẹ trên xe đạp, mẹ bóp phanh thì đứa nhỏ cũng dừng. Gánh thêm cái xe thì nó chỉ còn hãm được chừng năm chục. Mà năm chục là đủ. Đủ cho cả hai. Hãm xong thì tháo xe ra. Khoang thoát rơi về đường của khoang thoát. Xe rơi về đường của xe, nấp sau cái nón.
– Năm mươi – chị Mơ nói, chậm. – Khẩn, tính cho chị.
– Em tính rồi chị. – Giọng Khẩn. – Năm mươi hai, nếu xe dưới một tấn chín. Đủ. Vừa đủ. Cả hai cùng rơi trong một vòng.
– Còn khoang thoát – chị Thu hỏi. – Gánh xe như vậy thì nó có lái tự động được không?
Im.
– Không, chị – Nhựt nói. – Máy lái tự động hông biết có cái xe sau lưng. Nó sẽ tính sai, nó sẽ ngắt máy. Phải có người lái tay. Người biết lái khoang thoát đời đó.
– Tức là tôi – chị Thu nói.
Không ai trả lời. Ai cũng đã biết.
– Thì như ri – chị Thu nói, sau một lúc. Hưỡng nghe giọng chị đổi đi, cái giọng làm việc trở lại, như người đã thôi đứng trước cái hố mà bắt đầu đi tìm cái thang. – Khoang thoát Hồng Hạc 4, khoang chuẩn, tách đúng thiết kế, lái tự động. Hai chỗ. Khoang thoát Hồng Hạc 2, tôi lái tay, đẩy cái xe. Hai chỗ. Cái xe. Hai chỗ. Sáu.
– Sáu – Khẩn nói, như người ta đọc to một con số đã lâu lắm không được đọc.
Ở Mũi Én, chị Sô Phia lên tiếng. Chị không nói với chị Thu, không nói với chị Mơ. Chị nói với Hưỡng.
– Anh Hưỡng. Xe của anh. Trung tâm không quyết thay anh được. Anh có cho mượn xe không?
Hưỡng nhìn cái vô lăng.
– Cho mượn thì không – anh nói. – Xe tui, tui lái.
Bưởi kêu lên một tiếng. Hưỡng không quay lại.
– Hồi nãy cậu Nhựt nói xuống tới chỗ có không khí thì quạt bay được. Quạt của con Gà Mái, không ai biết nó bằng tui. Nó cũ, nó khó tính, lạnh là nó dở chứng. Người khác lái nó không nghe. Tui lái.
– Còn người thứ hai trên xe – chị Sô Phia nói.
Không ai trả lời. Cả xe đỏ, cả phòng trực Mũi Én, cả khoang lái Hồng Hạc 4, đều đang nhìn về một người, mà người ấy thì không ở đây.
– Dạ – Nhựt nói. – Con đi xe.
Bà Chiu không nói gì. Bà không gật, không lắc. Bà chỉ quay mặt ra ô kính bên hông, nhìn miếng kẹo cu đơ vẫn dán trên kính, hướng ra con tàu trắng ngà bốn mươi lăm mét ngoài kia.
– Tôi phải nói lần cuối – chị Mơ nói, giọng nghẹn đi. – Anh Hưỡng. Anh Nhựt. Nếu nó hỏng, nếu một cái vòng ống bị thủng, nếu lớp vải chịu nóng bị xé, thì không có dù nào cứu được hai người ngồi trên đó. Không có dù nào.
Hưỡng bấm nút đỏ.
– Chị Mơ – anh nói. – Còn dù phụ mà.
Anh nghe trong loa, từ khoang lái bên kia vách, một tiếng gì đó như tiếng cười. Hay tiếng khóc. Anh không biết là của chị Thu hay của cái người ngồi bên cạnh chị. Câu ấy không phải câu của anh. Sáng hai mươi lăm, khi anh nhìn cái nắp gạt màu vàng trên trần xe mà không dám kéo, có một thằng học kỹ thuật đã nói với anh y như vậy.
— Hết chương 30 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe