Chương 13: Hơi thở đóng băng
– Chị Thu. Chị Thu, dậy!
Hưỡng bấm cái nút đỏ, giữ chặt, nói vào máy lần thứ ba. Ở khoang lái bên kia, phải tới lần thứ ba mới có tiếng trả lời, khàn đặc vì ngủ.
– Tôi nghe.
– Xe báo khí CO2 tăng. Cái quạt gió dưới bảng nó thở như người hen.
Ba giây im. Rồi giọng Thu tỉnh hẳn.
– Đọc cho tôi con số.
Hưỡng đọc. Nhựt ở ghế bên đọc lại cho chắc. Trên bảng điều khiển, một cột nhỏ màu vàng đang nhích lên, chậm nhưng không dừng, như nước dâng trong ruộng lúc triều lên.
– Đường cấp vẫn chạy – Thu nói, sau khi xem bảng của khoang lái. – Khí sạch vẫn vào xe. Nhưng đường hồi gần như tắc. Khí các anh thở ra không quay về máy lọc của tàu được. Nó đọng lại trong xe.
– Tắc vì răng?
– Tôi chưa biết.
– Em biết – Nhựt nói. Cậu ta áp mặt vào cửa kính, nhìn ra ngoài, về phía cái ống mềm hai lòng chạy từ hông xe, vòng qua một cái giá, rồi theo vách khoang về phía khoang lái. – Hơi thở mình có hơi nước. Ống hồi đi qua khoang hàng, mà khoang hàng là chân không, đêm xuống thì lạnh âm mấy chục độ. Hơi nước gặp lạnh đọng lại trong ống, đông thành băng. Chỗ ống cong là chỗ đọng nhiều nhất. Đêm nay nó đông kín.
Thu im một lúc.
– Anh nói đúng – cô nói. – Hôm qua nó chưa tắc vì hôm qua trong khoang còn hơi ấm từ hai chiếc xe mới. Đêm nay lạnh hơn.
Bưởi đã thức. Bà Chiu đã thức. Thằng Chít vẫn ngủ, ngủ rất say, say tới mức lúc Bưởi lay vai nó, nó chỉ ư một tiếng rồi lại nhắm mắt.
– Chít. Chít ơi.
Thằng bé không mở mắt.
– Anh Hưỡng! – Bưởi kêu lên. – Nó không dậy!
– Bế nó lại gần cái miệng gió! – Nhựt nói. – Chỗ khí sạch thổi vô. Trẻ con thở nhanh hơn người lớn, khí độc lên là tụi nhỏ bị trước.
Bưởi tháo dây, ôm con, kéo người qua khe ghế, áp mặt thằng bé vào cái miệng gió nhỏ dưới bảng điều khiển. Luồng khí mát thổi vào mặt nó. Một lúc lâu, lâu tới mức Bưởi bắt đầu run, nó mới mở mắt, nhìn mẹ, rồi nói một câu mà ai nghe cũng thấy lạnh gáy:
– Mẹ ơi, đầu con nặng.
– Hộp lọc dự phòng – Thu nói trong loa. – Anh Hưỡng, xe anh có sáu hộp lọc dự phòng. Lắp vào khay lọc của xe, bật quạt trong của xe. Mỗi hộp chừng bốn tiếng cho sáu người.
– Ở mô?
– Hộc dưới ghế lái. Cái hộp màu trắng.
Hưỡng mò xuống hộc dưới ghế. Cái hộp nhựa trắng ở đó, bên cạnh cái máy bộ đàm màu cam và xấp túi vệ sinh. Sáu cái hộp lọc nhỏ, mỗi cái bằng cuốn sách, nặng trịch, bên trong là những hạt bột trắng. Khay lọc của xe nằm sau một cái nắp ở chân ghế phụ. Nhựt mở nắp. Hai người lắp hộp đầu tiên vào. Hưỡng bật cái quạt trong. Một tiếng vù khẽ.
Cái cột vàng trên bảng ngừng nhích. Nó không tụt xuống. Nó chỉ đứng yên.
– Đứng yên rồi – Hưỡng báo.
– Đứng yên thì tôi có thời gian – Thu nói. – Tôi ra ngoài.
– Chị lại ra?
– Ra.
Cô ra lúc hai giờ mười. Từ trong xe, họ thấy cô trôi dọc theo vách khoang, tay nắm tay vịn, đèn trên mũ chụp quét những vệt sáng trắng qua lớp sương bám trên thành tàu. Cô tới chỗ cái ống cong ở cái giá. Cô đặt hai bàn tay đeo găng lên ống, như người ta ôm một đứa trẻ bị sốt. Không ăn thua. Găng áp suất được làm để giữ hơi ấm cho tay, không phải để truyền hơi ấm ra ngoài.
Cô tháo đầu ống hồi ra khỏi cổng ở vách tàu. Một làn sương trắng phụt ra từ miệng ống, đông lại thành những tinh thể lấp lánh, trôi đi như bụi kim tuyến. Cô cầm đoạn ống cong, bẻ đi bẻ lại, gõ nó vào thành giá. Những mẩu băng nhỏ văng ra từ trong lòng ống, va vào mũ chụp cô như mưa đá. Cô gõ cho tới khi không còn mẩu nào văng ra nữa. Rồi cô cắm lại.
Trên bảng điều khiển trong xe, cái cột vàng bắt đầu tụt xuống.
– Tụt rồi! – Hưỡng reo lên.
– Đừng mừng – Thu thở hổn hển trong bộ đàm. – Nửa tiếng nữa trời lại tối. Nó sẽ đông lại.
Nó đông lại thật. Bốn giờ kém mười lăm, cái cột vàng lại nhích lên. Trong xe đã thay sang hộp lọc thứ hai. Thằng Chít tỉnh hơn, nhưng cứ ôm đầu kêu đau. Bà Chiu cũng đau đầu, bà không kêu, chỉ ngồi im, hai ngón tay day day hai bên thái dương. Hưỡng thấy mình thở dốc dù không làm gì cả, như vừa leo hết một con dốc.
Thu ngồi trong khoang lái, nạp lại ba lô dưỡng khí từ bình chính, nhìn con số trong bình tụt thêm một khấc, và nghĩ.
Cái ống cần được giữ ấm. Không phải một lần. Mà suốt. Trong một khoang chân không, không có cái gì để giữ ấm ngoài điện. Mà điện thì tàu có, từ hai chiếc xe bạc. Cái cô cần là một thứ biến điện thành hơi ấm, mềm, quấn được quanh một cái ống cong.
Cô nhắm mắt lại, và cô nhớ tới những buổi sáng mùa đông ở Nordvik, ngồi vào chiếc xe thuê của hãng để đi từ khu nhà phi công ra cảng. Cô luôn bật cái nút nhỏ bên hông ghế trước tiên, trước cả máy sưởi, trước cả đèn. Cái nút sưởi ghế. Năm giây sau, cái đệm dưới lưng cô ấm dần lên.
Hai chiếc xe bạc mới tinh, đẹp hơn Con Gà Mái gấp mấy lần. Xe đắt như thế, ghế nào cũng có sưởi.
Bốn giờ rưỡi, cô ra ngoài lần thứ hai. Cô bơi thẳng tới chiếc xe bạc gần nhất, mở cửa xe bằng cái nút khẩn bên ngoài. Bên trong xe là chân không, không có gì thoát ra cả. Cô thò người vào, rút con dao ở hông áo, rạch lớp bọc da của cái ghế lái. Dưới lớp da là một tấm đệm mỏng, đen, chằng chịt những sợi dây nhỏ như mạch máu trên lá. Cô cắt tấm đệm ra, giữ nguyên hai sợi dây điện đỏ đen nối nó vào gầm ghế. Cô tháo đầu dây ở gầm ghế. Cô làm thêm một tấm từ cái ghế bên cạnh.
Trong xe đỏ, Nhựt áp mặt vào kính theo dõi từng động tác của cô.
– Chị định quấn nó quanh ống?
– Đúng.
– Lấy điện ở đâu?
– Ổ cắm điện phụ trong cốp xe bạc. Ổ để cắm máy hút bụi, cắm tủ lạnh mini. Tôi nối thẳng vào.
– Dây sưởi ghế chạy ở điện áp thấp, chị coi chừng…
– Tôi biết. Tôi học sửa điện trước khi học bay.
Cô quấn hai tấm sưởi quanh chỗ ống cong, quấn chặt, rồi buộc lại bằng băng dính bạc, từng vòng, từng vòng, như người ta băng bó một cái chân gãy. Cô kéo hai sợi dây đỏ đen dọc theo cái giá, về tới cái xe bạc, luồn vào cốp, nối vào ổ cắm phụ. Cô với tay vào trong xe bạc, bật khoá điện. Trên bảng của chiếc xe bạc, mấy ngọn đèn nhỏ sáng lên trong chân không, lặng lẽ, như chiếc xe vừa tỉnh dậy sau một giấc ngủ dài mà không biết mình đang ở đâu.
Cô tháo ống hồi ra lần nữa, gõ cho hết băng, rồi cắm lại.
Lần này, khi cô cắm lại, cái khớp nối không ăn ngay. Cô phải xoay đi xoay lại ba lần. Mỗi lần xoay, từ chỗ khớp nối phụt ra một làn sương nhỏ. Khí. Khí sạch từ bình chính của tàu, đang thoát ra ngoài qua cái khe hở của một khớp nối đã bị tháo ra lắp vào quá nhiều lần trong một đêm.
Lần thứ ba, khớp ăn. Làn sương tắt.
Cô quay về. Trời lại tối. Trong xe đỏ, cái cột vàng tụt xuống, tụt xuống, rồi đứng yên ở mức xanh. Nó không nhích lên nữa.
Năm giờ hai mươi, Thu ngồi trong khoang lái, cởi áo, nạp lại ba lô, rồi mở bảng khí. Cô tính. Hai lần ra ngoài, hai lần nạp ba lô. Một lượng khí thoát ra ở khớp nối, mà cô không đo được chính xác, chỉ ước lượng được. Cô tính lại lần nữa. Rồi cô gọi xuống Mũi Én cho Khẩn tính.
Con số của Khẩn trùng với con số của cô.
Bình chính, sáu người cùng thở, tính đúng cả lượng khí vừa thoát ra, sẽ cạn vào khoảng năm giờ chiều ngày hai mươi tám. Trước đó, cô tính là sáng sớm hai mươi chín. Một đêm vừa ăn mất của họ gần nửa ngày.
Cô không báo ngay cho xe. Bên kia vách, trời đã sáng lại, và người ta đang ăn bánh chưng.
Bà Chiu là người đề nghị. Bà nói đau đầu thì phải ăn, ăn vào cái bụng có hơi ấm thì đầu đỡ. Bưởi đưa ra một cái bánh chưng trong ba cái chị mua ở chợ Tết Nordvik. Cái bánh vuông vức, gói bằng lá dong thật mà người ta chở từ quê sang, buộc lạt tre thật, xanh sẫm, cứng, lạnh như cục đá.
– Bên đó họ cũng gói đẹp đấy chứ – bà Chiu nói, lật cái bánh trong tay.
– Một cái bánh ba trăm nghìn đấy bác – Bưởi nói. – Đắt hơn ở quê ba lần.
– Ở quê không ai bán bánh chưng ba trăm. Ở quê người ta tự gói.
Bà Chiu tháo bốn sợi lạt. Ba sợi bà cuộn lại, nhét vào túi áo. Sợi thứ tư bà giữ lại, kéo căng giữa hai bàn tay. Bà bóc lá. Những tàu lá dong bị bóc ra không rơi xuống mà cứ lơ lửng quanh cái bánh như những cánh hoa xanh đang nở. Thằng Chít bắt từng tàu lá, ép lên mặt kính, lá dính vào kính như một tấm tranh.
Bà Chiu vòng sợi lạt quanh cái bánh trần, bắt chéo hai đầu, rồi kéo mạnh. Sợi lạt cắt ngọt qua cái bánh, tách nó làm đôi, gọn như dao cắt. Bà xoay cái bánh, vòng lạt, kéo lần nữa. Bốn phần. Rồi tám.
– Ở quê người ta cắt như ri – bà nói. – Cắt bằng dao thì dính, thì nát. Cắt bằng lạt thì miếng nào miếng nấy vuông vắn.
Nhưng ở quê thì không có chuyện những hạt gạo bên rìa miếng bánh tách ra và bay lên. Một hạt. Rồi mười hạt. Rồi cả một đám hạt gạo nếp màu xanh nhạt vì ngấm lá dong, trôi lững lờ trong xe như một đàn cá con. Thằng Chít cười rú lên. Nhựt và Hưỡng cùng chụp lấy cuộn băng dính. Bưởi vừa cười vừa la. Bà Chiu ngồi giữa đám hạt gạo bay ấy, tay cầm sợi lạt, miệng cười móm mém.
– Bánh chưng bay! – thằng Chít gào lên. – Bánh chưng bay mẹ ơi!
– Ăn đi con. Ăn đi không nó bay mất.
Mỗi người một miếng. Thằng Chít một miếng rưỡi. Bánh lạnh, cứng, nhân đậu xanh bở ra, mỡ đông trắng. Không ai chê. Hưỡng ăn một miếng mà thấy cổ họng mình nghẹn lại, không phải vì bánh khô.
Mười giờ sáng, Thu mở loa.
Cô báo cho cả xe con số mà Khẩn tính. Năm giờ chiều hai mươi tám. Cô nói chậm, không giấu điều gì. Cô nói về hai lần ra ngoài, về cái khớp nối, về lượng khí đã thoát ra mà cô không giữ lại được. Cô xin lỗi. Hưỡng định nói cô không có lỗi gì thì loa rè lên, một giọng khác chen vào. Giọng Thạch Sô Phia.
– Hồng Hạc 4, Mũi Én. Tôi có tin của khí tượng. Chị Thu, chị để loa sang xe.
– Loa đang mở.
– Gió mùa mạnh hơn dự báo, và kéo dài hơn. Gió ở mũi đất suốt đêm nay vẫn trên ngưỡng. Én Bạc không phóng được lúc hai giờ sáng hai mươi tám. Cửa sổ kế tiếp là hai giờ sáng hai mươi chín. Khí tượng cho khả năng sáu phần mười. Đuổi kịp các vị vào khoảng tám giờ sáng hai mươi chín.
Trong xe, không ai nói gì. Không ai cần tính. Ngay cả thằng Chít, bảy tuổi, đang ngậm miếng bánh chưng thứ hai, cũng nhìn mẹ, rồi nhìn chú Hưỡng, rồi nhìn cái loa, và hiểu được rằng có một điều gì đó vừa vỡ.
Năm giờ chiều hai mươi tám. Tám giờ sáng hai mươi chín.
Họ sẽ hết khí trước khi Én Bạc kịp lên tới nơi.
— Hết chương 13 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe