Chương 14: Mẹ con Bưởi
– U ơi, con đây. Con không sao. Thằng Chít cũng không sao.
Một giờ chiều hai mươi bảy tháng Chạp, Ngô Thị Bưởi ngồi co ở hàng ghế cuối của Con Gà Mái, áp cái máy liên lạc mà Thu chuyển sang tai nghe riêng vào sát tai, nói thật nhỏ. Bên cạnh chị, thằng Chít nằm cuộn tròn trên ghế, cái khăn quàng phủ kín mặt, thở đều. Từ sáng tới giờ nó vẫn còn đau đầu, ăn xong miếng bánh chưng thứ hai là lăn ra ngủ.
Ở đầu kia, bà Thơ, mẹ của Bưởi, nói bằng cái giọng Bạch Sa mà chị đã không nghe tận mặt suốt sáu năm. Giọng bà to, nói như quát, như mọi người làng chài nói chuyện với nhau qua tiếng sóng.
– Mày còn sống thì tao còn sống. Tivi nói suốt. Cả làng Cồn Rươi ngồi nhà tao xem tivi. Bà Lạng nhà bên mang sang cả nồi cháo.
– Con biết rồi u.
– Thằng Chít có ăn được không?
– Có. Nó ăn bánh chưng.
– Bánh chưng bên ấy có ngon không?
– Không ngon bằng u gói.
Ở đầu kia, bà Thơ khóc. Bưởi chưa từng nghe mẹ khóc. Hồi bố chị đi biển không về, bà cũng không khóc trước mặt con.
– U ơi – Bưởi nói, nhỏ hơn nữa, liếc sang thằng bé đang ngủ. – Chuyện con nói với u hồi tháng Mười. Con vẫn định thế. Về đến nơi con gửi nó lại cho u. Ra Giêng con đi một mình.
Bà Thơ im lặng.
– Bên đó con làm mười hai tiếng một ngày, u ạ – Bưởi nói, nhanh, như đã nói câu này với chính mình nhiều lần. – Sáng con đi lúc nó còn ngủ, tối con về lúc nó ngủ rồi. Nó ở nhà một mình, xem máy, ăn mì. Đi học thì chẳng có bạn, tụi trẻ con bên đó nói nó là đồ ăn hôi. Nó bảy tuổi rồi mà chưa biết con cua con cáy là gì. Con muốn nó về với u, đi học trường làng, có bạn, có biển. Con đi làm, con gửi tiền về. Mấy năm nữa con về hẳn.
– Mày hỏi nó chưa?
– Nó bảy tuổi, u ơi. Hỏi nó thì nó biết gì.
– Thế mày biết gì? – bà Thơ quát. – Mày bảy tuổi thì mày biết gì? Mày bảy tuổi tao bỏ mày lại cho bà nội đi chợ cá Lạch Mới một tuần, mày khóc một tuần, mày bỏ ăn một tuần. Mày quên rồi à?
Bưởi không trả lời được.
Đường truyền rè đi. Rồi tắt.
Chị gỡ tai nghe ra, ngồi im. Rồi chị quay sang thằng bé. Cái khăn quàng vẫn phủ kín mặt nó, nhưng chị thấy cái khăn đang run lên rất nhẹ, không phải cái run đều đặn của hơi thở người ngủ.
– Chít?
Cái khăn không động đậy nữa.
– Chít, con ngủ à?
Không có tiếng trả lời. Bưởi đưa tay ra kéo cái khăn xuống. Thằng bé không ngủ. Hai mắt nó mở to, đỏ hoe, ướt, những giọt nước mắt đọng thành hai cái vũng nhỏ run rẩy trên con ngươi, không rơi được. Nó nhìn mẹ. Rồi nó nhìn đi chỗ khác.
– Con nghe thấy à?
Nó không trả lời. Nó tháo cái dây bụng, nhanh tới mức Bưởi không kịp giữ, rồi đẩy người lên, lộn ngược ra sau lưng ghế. Sau hàng ghế cuối của Con Gà Mái có một cái nắp nhựa mỏng, gập xuống được, thông sang cái cốp xe nhỏ. Thằng bé chui tọt qua cái nắp, kéo nó đóng lại sau lưng.
– Chít! – Bưởi hét.
Cả xe quay lại.
– Nó chui vô cốp – Hưỡng nói, tháo dây. – Không sao. Cốp cũng nằm trong khoang kín. Không ra ngoài được mô.
Nhưng khi Bưởi mở cái nắp ra, thằng bé không ở ngay đó. Cái cốp đầy những vali, những túi, những thùng hàng mà mỗi người mang về cho gia đình, chèn chặt vào nhau. Thằng bé hai mươi hai cân đã luồn được vào một cái khe nào đó giữa chúng, như con chuột luồn vào đống rơm. Bưởi thò tay vào, gạt một cái vali ra. Cái vali trôi lên, đập vào đầu chị. Chị gạt cái khác. Không thấy con.
– Chít! Ra đây với mẹ! Mẹ không đi đâu hết! Ra đây!
Không có tiếng trả lời.
Trong một cái xe chỉ bằng cái giường đôi, cộng thêm một cái cốp bằng cái tủ, người ta không lạc được nhau. Ai cũng biết thế. Vậy mà mất gần năm phút, năm phút mà Bưởi gào tên con tới khản giọng, năm phút mà bà Chiu ngồi nắm chặt cái hộp thiếc tới trắng các đốt ngón tay, thì Hưỡng mới tìm ra nó.
Nó nằm co sau cái thùng táo, giữa một cái vali màu tím và một cái túi vải to tướng có in hình con cá. Nó ôm cái túi vải đó vào ngực.
Hưỡng nhận ra cái túi. Đó là túi quà Tết của mẹ con Bưởi. Lúc ở cảng Nordvik, thằng bé đã khoe với anh trong đó có gì: một cái khăn len cho bà ngoại, một hộp kẹo cho mấy đứa trẻ con cùng xóm mà nó chưa biết mặt. Và một cái hộp nhỏ có con tàu nhảy bằng nhựa, nó định tặng cho đứa bạn đầu tiên nó gặp ở làng.
– Cu ni – Hưỡng nói, nhỏ, không kéo nó ra. – Mi nằm đó có lạnh không?
Thằng bé lắc đầu.
– Mi có cho chú nằm chung không?
Thằng bé nhìn anh. Không gật, không lắc.
Hưỡng không chui vào được. Người anh to quá. Anh chỉ thò đầu và một cánh tay qua cái nắp, rồi nằm vắt ngang lưng ghế cuối, nửa người trong xe, nửa người trong cốp, cái tư thế mà ở dưới đất chắc làm anh gãy lưng. Ở đây thì không sao.
– Mạ mi không bỏ mi – anh nói.
– Mẹ bảo sẽ đi một mình.
– Mạ mi nói với bà ngoại mi. Người lớn nói với nhau hay nói những điều mình chưa chắc.
– Chú cũng thế à?
Hưỡng im một lúc.
– Chú cũng thế – anh thừa nhận. – Hôm qua chú vừa nói với vợ chú một điều chú giấu năm tháng. Chú tưởng chú giấu được hoài. Không giấu được mô.
Thằng bé nhìn anh.
– Trên này có ai bỏ con không?
Câu hỏi giống hệt câu hỏi đêm hai mươi lăm, "con có bị đuổi xuống không". Hưỡng hiểu rằng với một đứa trẻ bảy tuổi, hai câu hỏi ấy là một.
– Không – anh nói. – Trên ni không ai bỏ ai. Bà Chiu hứa với mi rồi. Bà già rồi, bà không nói dối.
– Thế ở nhà bà ngoại có ai bỏ con không?
Hưỡng không trả lời được câu ấy. Anh không có quyền trả lời. Anh rút cánh tay ra, nhường cái nắp cho Bưởi.
Bưởi không chui vào. Chị chỉ đặt cằm lên mép nắp, nhìn con. Chị không nói gì một lúc lâu. Chị nhìn cái túi vải hình con cá trong tay nó.
– Ở trong túi có con tàu nhựa con định tặng bạn, phải không? – chị hỏi.
Thằng bé gật đầu.
– Con muốn ở với ai?
Nó nhìn mẹ, như không tin là mẹ vừa hỏi mình.
– Con muốn ở với mẹ. Ở đâu cũng được.
Bưởi đưa tay vào, nắm lấy bàn chân nó. Chị không kéo nó ra. Chị chỉ nắm.
Ở hàng ghế giữa, bà Chiu quay người lại. Bà nói, không nhìn Bưởi, mà nhìn ra cửa kính.
– Hồi thằng Vận bốn tuổi, tui cũng gửi nó cho bà nội nó. Tui vô Vân Cảng làm thuê ba năm. Làm giúp việc cho một nhà buôn vải, rửa bát, giặt đồ, trông con cho người ta. Mỗi tháng gửi tiền về. Ba năm đó nhà tui lợp được cái mái ngói, mua được con trâu. Ba năm đó tui có tiền.
Bà dừng lại. Bưởi quay sang nhìn bà.
– Ba năm sau tui về. Thằng Vận bảy tuổi, đứng ở đầu ngõ với bà nội. Tui ôm hắn. Hắn gọi tui là "o".
– "O"? – Bưởi hỏi.
– "O" là cô – bà Chiu nói. – Hắn gọi tui là cô. Hắn không gọi tui là mạ. Một tháng. Một tháng trời, tui nấu cơm cho hắn ăn, tắm cho hắn, ru hắn ngủ, mà hắn vẫn gọi tui là o. Rồi một bữa tui đi chợ về muộn, trời tối, hắn ra đầu ngõ đứng chờ, thấy tui là hắn chạy lại. Hắn kêu "mạ". Rứa thôi.
Bà quay sang Bưởi.
– Ba năm có tiền, mất tiếng mạ một tháng. Một tháng thôi. Mà tới chừ tui sáu mươi ba tuổi, thằng Vận mất rồi, tui vẫn nhớ cái tháng đó hơn nhớ cái mái ngói.
Bưởi cúi đầu xuống mép nắp cốp. Vai chị rung lên. Chị khóc không thành tiếng, cái kiểu khóc của người đã quen khóc một mình trong cái phòng thuê nhỏ ở Nordvik, sau mười hai tiếng ngồi dũa móng cho người lạ.
– Chít ơi – chị nói, giọng nghẹn. – Mẹ không đi đâu nữa. Ra Giêng mẹ ở nhà. Mẹ mở tiệm làm móng ở chợ xã, như mẹ nói với chú Hưỡng. Mẹ làm móng cho các bà các cô trong làng. Kiếm ít thì ăn ít. Con đi học trường làng, chiều mẹ đón.
– Mẹ hứa không?
Bưởi nhìn bà Chiu. Bà Chiu gật đầu, rất khẽ.
– Mẹ hứa.
Thằng Chít buông cái túi vải ra. Nó trườn ra khỏi khe vali, chui qua cái nắp, lao thẳng vào lòng mẹ, đẩy cả hai mẹ con lộn một vòng giữa không trung, đầu Bưởi đập nhẹ vào trần xe, chân thằng bé đá vào lưng ghế. Không ai la. Bà Chiu ngồi nhìn, mắt nheo lại. Hưỡng quay mặt lên trước. Bên cạnh anh, Nhựt đã quay mặt ra cửa kính từ lúc nào.
Trong loa, Thu không nói gì. Nhưng loa vẫn mở.
Cả buổi chiều còn lại trôi qua yên ắng. Không ai nhắc tới con số năm giờ chiều hai mươi tám. Không ai nhắc tới tám giờ sáng hai mươi chín. Bưởi kể cho thằng Chít nghe về làng Cồn Rươi, về con lạch có những con cáy chạy ngang, về những chiếc thuyền thúng tròn như cái nong úp, về bà ngoại hay quát mà thương người. Bà Chiu kể về con đê ở làng Cát Sen. Hưỡng kể về thằng cu Tỏi, đứa đã cài tiếng gà cục tác cho xe. Thằng Chít hỏi Tỏi có thích tàu nhựa không. Hưỡng nói có, thích lắm.
Gần bảy giờ tối, con tàu ra khỏi bóng đêm lần thứ mười mấy của ngày hai mươi bảy.
Nhựt ngồi ở ghế phụ, nhìn qua cái khe cửa cuốn. Từ chỗ cậu ngồi, cái khe ấy chỉ như một ô cửa sổ dài và hẹp, vừa đủ thấy một vạt trời. Ở phía chân trời, mặt trời vừa mọc, nhưng trên nền trời phía bên kia vẫn còn tối, vẫn còn sao.
Cậu nhìn những ngôi sao ấy, như cậu vẫn nhìn mỗi lần trời sáng lại suốt ba ngày nay. Chúng đứng yên. Ở trên quỹ đạo, sao đứng yên y như ở dưới đất. Chỉ có mặt đất là trôi.
Nhưng có một ngôi sao không đứng yên.
Nó nằm gần mép dưới của cái khe, nhỏ, sáng, cái sáng lạnh của vật đang hắt nắng chứ không phải của sao. Nhựt nhìn nó một phút. Hai phút. Ba phút. Những ngôi sao xung quanh nó vẫn đứng nguyên chỗ cũ. Nó thì nhích. Rất chậm. Nhích theo cùng chiều với con tàu.
Cậu đã từng ngồi trong phòng trực ở Mũi Én, đêm này qua đêm khác, nhìn những chấm sáng nhỏ trôi trên màn hình ra-đa. Cậu biết thế nào là một vật đang bay cùng quỹ đạo với mình.
Nhựt áp tay lên mặt kính. Lòng bàn tay cậu lạnh toát.
– Nó đi theo mình – cậu thì thầm.
Bên cạnh, Hưỡng đã ngủ gật. Không ai nghe thấy.
— Hết chương 14 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe