Chương 3: Chín tiếng
Thằng Chít nôn vào lúc chiếc xe xoay tới vòng thứ mười hai.
Nó không kịp kêu. Nó chỉ ngước lên nhìn mẹ, mặt tái như tờ giấy, hai má phồng ra, rồi một bãi nước chua vọt ra khỏi miệng. Bãi nôn không rơi xuống. Nó bay ra thành một khối tròn tròn, nhoè nhoẹt, xoay chầm chậm giữa thằng bé và hàng ghế trước.
Bà Chiu là người phản ứng nhanh nhất. Bà giật cái túi ni lông đựng mứt gừng, dốc mứt ra lòng, rồi chụp cái túi lên khối nước đang bay như người ta chụp nơm bắt cá. Bà xoắn miệng túi lại, buộc một cái nút, nhét vào túi áo khoác của mình.
– Rứa là xong – bà nói. – Con nôn nữa thì nói bà. Bà còn túi.
Mấy miếng mứt gừng trong lòng bà bắt đầu trôi lên, từng miếng, vàng óng như những con cá nhỏ. Bà lùa chúng lại bằng hai bàn tay, nhét vào túi áo bên kia.
Thằng Chít khóc. Không phải khóc vì đau, mà vì xấu hổ, vì nó bảy tuổi rồi mà còn nôn lên xe người ta. Bưởi ôm đầu nó vào ngực, lau miệng cho nó bằng vạt áo.
– Không sao. Không sao. Mẹ cũng muốn nôn đây này.
– Ai cũng muốn nôn – Hưỡng nói. – Tui muốn nôn từ lúc tàu chưa cất cánh.
Không ai cười, nhưng thằng Chít thôi khóc.
Chiếc xe vẫn xoay. Không nhanh, chừng nửa phút một vòng, nhưng xoay theo hai chiều cùng lúc, vừa lộn đầu vừa nghiêng cánh, nên cứ mỗi lần nhìn ra cửa kính là thấy một thứ khác. Một lúc là màu đen đặc, lấm tấm sao, nhiều sao hơn bất cứ đêm nào ở quê. Một lúc là vầng cong xanh thẫm của mặt đất, rộng tới mức không còn thấy cong. Một lúc là cái chấm trắng nhỏ xíu của con tàu Hồng Hạc 4, mỗi lần một xa hơn.
– Đừng nhìn ra ngoài nữa – Nhựt nói. – Nhìn ra ngoài là mắt thấy quay mà tai hông thấy, người ta nôn vì vậy. Nhìn vô trong xe thôi. Nhìn vô cái ghế trước mặt.
– Cậu nói như đã từng lên đây rồi – Bưởi nói.
– Dạ, em đọc sách.
Hưỡng tháo dây bụng. Anh nhổm dậy, rồi lập tức đập đầu vào trần xe vì cái nhổm nhẹ hều ấy đẩy anh lên quá đà. Anh chửi một câu bằng giọng Cửa Rạn đặc sệt, một câu mà ở nhà anh không bao giờ chửi trước mặt con. Rồi anh níu lấy tay vịn, kéo người mình xuống, ép vào ghế, cài lại một sợi dây.
– Từ chừ không ai tháo dây – anh nói. – Muốn đi mô thì níu, đừng nhảy.
Anh cúi xuống bảng điều khiển. Bảng điều khiển của Con Gà Mái là cái bảng mà anh biết như biết lòng bàn tay mình. Pin, quạt, nhiệt độ, áp suất, định vị, mấy cái đèn báo mà anh đã quen tới mức nhìn màu là biết chuyện gì. Bây giờ anh nhìn nó như nhìn tờ giấy viết tiếng nước ngoài. Định vị nhấp nháy chữ "không tìm thấy". Pin tám mươi phần trăm. Nhiệt độ trong xe mười chín độ. Áp suất trong xe một át, ổn. Và ở góc dưới, một con số mới, trước giờ anh chưa thấy bao giờ: "Dưỡng khí bình riêng: 7 giờ 41 phút."
– Bảy tiếng bốn mươi mốt – anh đọc to.
– Máy nó tính cho sáu ghế – Nhựt nói. – Mình năm người, trong đó một người nhỏ. Em tính sơ thì cỡ chín tiếng. Nếu mình nằm yên, thở nhẹ, hông la hét.
– Chín tiếng – Bưởi lặp lại. – Thế sau chín tiếng?
Nhựt không trả lời. Hưỡng cũng không. Bà Chiu nhìn thằng Chít, rồi nói thay:
– Sau chín tiếng thì người ta tới rồi.
Hưỡng mở cái hộc dưới ghế lái. Trong đó có một cái máy bộ đàm khẩn màu cam, to bằng viên gạch, loại mà xe đi tàu nhảy bắt buộc phải mang theo. Mười một năm anh chưa từng bật nó. Anh bật lên. Màn nhỏ trên máy hiện một vạch sóng, rồi chỉ có tiếng rè, như tiếng mưa rơi trên mái tôn.
– Hồng Hạc 4, Hồng Hạc 4. Xe đỏ gọi tàu. Có ai nghe không?
Rè.
– Chị Thu ơi. Đậu Văn Hưỡng đây. Chị còn đó không?
Rè. Rồi trong tiếng rè, một giọng nói, đứt đoạn.
– … Thu đây. Nghe… anh Hưỡng. Nhắc lại… trong xe… bao nhiêu…
– Còn sống hết! – Hưỡng hét vào máy, như sợ hét nhỏ thì sóng không đi. – Còn sống hết, chị ơi!
Một khoảng lặng. Rồi tiếng rè bớt dần, có lẽ vì chiếc xe vừa xoay tới một góc mà ăng-ten nhìn thẳng về phía tàu. Giọng cơ trưởng Lưu Hạnh Thu nghe rõ hơn, khàn và mệt, nhưng vẫn rõ từng chữ.
– Tôi nghe anh rồi. Cho tôi biết áp suất trong xe, dưỡng khí còn bao nhiêu, có ai bị thương không.
Hưỡng định đọc thì Nhựt đã chồm lên, nói vào máy, giọng nhanh và gọn, khác hẳn giọng cậu thanh niên ngại ngùng lúc nãy.
– Dạ, áp suất trong xe một át, ổn định. Bình riêng báo bảy giờ bốn mốt phút, máy tính cho sáu ghế. Trên xe hông ai bị thương, có người nôn. Xe đang xoay hai trục, cỡ nửa phút một vòng. Định vị của xe hông bắt được. Chị cho em xin quỹ đạo của tàu.
Đầu bên kia im một lúc.
– Anh là ai?
– Dạ, em là khách. Em học kỹ thuật.
– Học kỹ thuật thì biết hỏi quỹ đạo à?
– Dạ.
Lại im.
– Một trăm tám mươi hai nhân bốn trăm sáu mốt cây số – Thu nói. – Tàu đã lên quỹ đạo. Xe của các anh cũng vậy, cùng một quỹ đạo, cách tàu chừng sáu trăm mét và đang xa dần. Mặt đất đã thấy tôi trên ra-đa, nhưng tôi chưa nói chuyện được với họ, ăng-ten chính bị hỏng. Tôi đang chuyển sang ăng-ten phụ.
Bà Chiu nghiêng người về phía Nhựt.
– Cậu, quỹ đạo là chi?
Nhựt nhả nút bộ đàm. Cậu ta quay lại nhìn bà, nhìn mẹ con Bưởi, nhìn Hưỡng. Cậu ta suy nghĩ một lúc, như đang tìm một câu để nói với người không học khoa học, mà nói cho đúng.
– Bác ơi, hồi nhỏ bác có ném đá qua sông hông?
– Có. Ai mà không ném.
– Ném nhẹ thì hòn đá rơi giữa sông. Ném mạnh hơn thì nó qua bờ bên kia. Bây giờ bác tưởng tượng mình ném mạnh tới mức hòn đá bay hoài, bay qua làng, qua tỉnh, mà đất thì tròn, đất cứ cong xuống dưới nó hoài. Nó rơi mà hông bao giờ tới đất. Nó cứ rơi vòng quanh. Tụi mình bây giờ là hòn đá đó.
– Rứa là mình đang rơi?
– Dạ. Đang rơi. Mà rơi vòng quanh. Chín mươi mốt phút một vòng trái đất.
Bà Chiu ngồi im. Rồi bà nói, như nói với chính mình:
– Rơi mà không tới đất. Rứa còn khổ hơn rơi.
Ngoài cửa kính, phía bên kia vầng cong xanh thẫm, có một vệt sáng đang lan ra. Ban đầu chỉ là một sợi chỉ cam mỏng, nằm dọc theo mép đất. Rồi sợi chỉ dày lên, chuyển sang đỏ, sang vàng, sang trắng. Rồi mặt trời nhô lên, không phải từ từ như ở quê, mà vụt lên như ai bật công tắc, một đốm trắng chói tới mức Hưỡng phải đưa tay che mắt. Ánh nắng tràn vào xe. Mấy giọt nước bay lơ lửng trong xe từ lúc nào, Hưỡng không biết, bỗng sáng lên như những hạt ngọc.
Dưới kia, mặt biển hiện ra. Không phải màu xanh như trong tranh. Là màu chàm thẫm, mênh mông, rải rác những đám mây trắng như bông mà ai đó vừa xé ra thả xuống. Bóng của những đám mây in lên mặt biển, thành những vệt đen nhỏ.
– Mẹ ơi – thằng Chít nói. – Kia là biển à?
– Ừ.
– Biển nhà bà ngoại có ở dưới đó không?
– Có. Ở xa xa phía trước kia.
– Thế mình bay về đấy à?
Bưởi không trả lời được. Hưỡng trả lời thay.
– Đúng rồi. Mình đang bay về đó. Chỉ là bay vòng hơi xa.
Nhựt nhìn ra ngoài, nhìn mặt trời, rồi nhìn đồng hồ trên tay. Cậu ta nói khẽ, như không muốn ai nghe:
– Mình đang đi về phía đông. Vòng ni mà qua trời nhà thì cỡ bốn mươi phút nữa.
Thằng Chít nghe thấy. Nó áp cả hai bàn tay lên cửa kính, rồi áp luôn cái mũi.
– Thế con vẫy tay bà ngoại có thấy không?
Không ai trả lời nó.
Bà Chiu nhấc cái hộp thiếc lên khỏi đùi, giữ bằng hai tay cho nó khỏi trôi đi. Bà mở nắp ra một khe nhỏ, nhìn vào trong, rồi đóng lại. Thằng Chít quay sang.
– Trong hộp có gì thế bà?
Bà Chiu nhìn thằng bé.
– Có cái đèn pin.
– Đèn pin à? Của bà à?
– Của chú Vận. Hồi chú bằng tuổi con.
– Chú Vận là ai?
Bưởi kéo tay con. Bà Chiu lắc đầu với Bưởi, ý bảo không sao.
– Là con trai bà. Chú cũng lái tàu như cô Thu đó.
– Thế chú đâu rồi?
Bà Chiu mở nắp hộp ra lần nữa, rồi lại đóng.
– Chú đi xa – bà nói. – Con ngồi im, bà kể cho nghe sau.
Bộ đàm lại rè lên. Giọng Thu, lần này rõ hơn hẳn.
– Anh Hưỡng. Tôi đã nói được với mặt đất qua ăng-ten phụ, chập chờn. Họ biết các anh ở ngoài này. Bây giờ tôi nói thật với các anh, để các anh chuẩn bị tinh thần.
Hưỡng nắm chặt cái máy.
– Chị nói.
– Khoang máy của tàu hỏng hết. Máy chính không còn, nhiên liệu cũng không còn. Tôi chỉ còn mấy cái động cơ điều hướng nhỏ, loại để xoay tàu, đẩy nhẹ. Khoang lái của tôi còn kín, còn khí thở, còn điện. Xe các anh đang trôi ra xa tàu chừng nửa mét mỗi giây. Một giờ nữa là gần hai cây số. Tôi phải đưa tàu lại gần các anh, rồi ra ngoài, móc dây vào xe, kéo về.
– Ra ngoài? – Bưởi hỏi. – Chị ra ngoài cái chỗ… không có không khí ấy?
– Tôi có áo áp suất. Tôi được học.
– Học thì học, chứ chị làm thật lần nào chưa?
Một khoảng im.
– Chưa – Thu nói. – Nhưng các anh chị có tám tiếng khí. Tôi sẽ làm cho xong trong tám tiếng đó.
– Chị cứ làm – Hưỡng nói. – Cần chi chị nói.
– Có một chuyện nữa. – Giọng Thu chậm lại. – Động cơ điều hướng của tôi dùng chung một bình nhiên liệu nhỏ. Bình đó là toàn bộ những gì con tàu này còn để mà di chuyển, từ giờ cho tới khi có người tới đón. Tôi tính rồi. Đưa tàu lại gần xe, dừng cho đúng chỗ, rồi giữ tàu đứng yên trong lúc tôi ra ngoài, là tốn một phần đáng kể.
– Rứa thì sao? – Hưỡng hỏi.
– Thì tôi chỉ đủ nhiên liệu để thử một lần.
— Hết chương 3 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe