Chương 8: Thuốc giữa mùa hoa
Sáng thứ Bảy, trước cửa thùng ong số ba mươi hai có một đống ong chết, cao như một nắm trấu.
Xuyến thấy nó trước. Cô dậy sớm, ra vườn coi mấy gốc cà phê cô cắt nhầm cành hôm trước, đi ngang dãy thùng thì đứng khựng lại. Ong nằm la liệt trên tấm ván cửa tổ, trên mặt đất trước thùng, rải ra thành một vệt dài. Có con đã chết cứng, chân co quắp. Có con còn quay vòng vòng trên đất, cánh run bần bật, không bay lên được. Có con bò ra tới mép ván rồi rơi xuống, nằm ngửa, chân quơ quơ trong không khí.
Cô nhìn sang thùng bên cạnh. Cũng vậy. Thùng kế tiếp. Cũng vậy.
Cô chạy xuống lán.
Lãm đã thức. Anh đang đứng ở dãy thùng cuối, chỗ giáp vườn ông Tám, tay cầm cái bình hun khói chưa châm. Anh không hun khói. Anh đứng nhìn xuống chân mình. Dưới chân anh, trước thùng sơn xanh dương có con ong vẽ mặt cười, cũng có một vệt ong chết.
– Anh Lãm...
– Thuốc – anh nói. Giọng anh bình thường, quá bình thường. – Có người phun thuốc sâu.
Anh ngẩng lên, nhìn qua ranh vườn ông Tám, qua luôn vườn ông Tám, về phía một vườn cà phê nữa nằm ở xa hơn, bên kia con suối cạn. Vườn đó còn trắng hoa. Năm nay vườn đó tưới đợt một trễ, hoa nở trễ hơn cả xóm gần ba tuần. Cả xóm đã tàn, chỉ có vườn đó đang nở rộ, nên mấy ngày nay ong của Lãm bay hết qua đó.
Trong không khí có một mùi hắc nhẹ, ngòn ngọt, khó chịu, lẫn với mùi hoa.
– Vườn ai vậy?
– Thằng Hưng. Cháu ông Tám.
Anh đặt cái bình hun khói xuống. Anh đi về phía suối. Xuyến đi theo. Anh đi nhanh, bước dài, cô phải chạy mới theo kịp. Cô nhìn cái lưng anh, hai bàn tay anh nắm lại rồi mở ra, nắm lại rồi mở ra. Cô nghĩ tới cảnh hai người đàn ông đứng giữa vườn cà phê, tới những câu chửi, tới những cú đấm. Cô không biết người này giận lên thì như thế nào.
Họ lội qua suối cạn, leo lên bờ bên kia. Mùi thuốc nồng hơn. Giữa vườn, dưới một gốc cà phê, có một cái bình xịt đeo vai bằng nhựa màu vàng nằm nghiêng. Cạnh đó, một người đàn ông thấp, đậm người, ngồi gục đầu, hai tay ôm bụng.
Lãm dừng lại.
– Hưng?
Người đàn ông ngẩng lên. Mặt anh ta tái xanh, mồ hôi chảy ròng ròng dù trời còn sớm và lạnh. Khóe miệng có nước dãi. Anh ta nhìn Lãm, rồi nhìn Xuyến, mắt lờ đờ.
– Anh Lãm hả... Tui... chóng mặt quá...
Anh ta nôn khan một cái.
Xuyến bước lên trước Lãm. Cô ngồi xổm xuống, cách Hưng một tầm tay, không chạm vào.
– Anh phun thuốc gì?
Hưng chỉ về phía cái bình xịt. Cạnh cái bình có một cái chai nhựa nhỏ, nhãn đã bị nước làm nhòe. Xuyến không cần đọc. Cô đã ngửi thấy. Và cô thấy những thứ khác: áo của Hưng ướt sũng một bên vai và lưng, chỗ cái bình xịt áp vào. Anh ta không đeo khẩu trang. Không đeo găng.
– Anh phun từ lúc mấy giờ?
– Từ... từ bốn giờ... phun cho mát...
– Anh Lãm. – Xuyến quay lại. – Nhà anh ta ở đâu?
– Ngay kia.
– Có nước không? Xà phòng?
– Có.
– Đỡ anh ta về đó. Đừng để da anh dính vào chỗ áo ướt.
Lãm cởi cái áo khoác vải bạt ngoài ra, quấn quanh người Hưng như một tấm khăn, rồi xốc nách anh ta đứng lên. Hưng loạng choạng. Lãm gần như vác anh ta đi.
Nhà Hưng là một căn nhà tạm vách ván, mái tôn, sau nhà có một cái bể nước xây bằng gạch. Xuyến vào bếp, lục được một đôi găng tay cao su rửa chén và một bánh xà phòng cục. Cô ra sau nhà.
– Cởi hết đồ ra. Cởi luôn quần.
Hưng nhìn cô, mặt tái mét mà vẫn ngượng được. Xuyến không có thời gian cho chuyện đó.
– Anh Lãm, anh cởi giúp anh ta. Bỏ đồ vô một cái bao, buộc lại, đừng giặt chung với đồ khác. Rồi xối nước. Kỳ xà phòng. Kỳ hết, tóc, cổ, nách, kẽ tay, kẽ chân. Kỳ hai lần.
Cô đeo găng, đưa bánh xà phòng cho Lãm. Cô quay lưng lại cho Hưng đỡ ngượng, nhưng vẫn đứng gần, nghe tiếng nước xối, tiếng Hưng thở. Cô hỏi anh ta mấy câu, giọng đều: anh có thấy mờ mắt không, có thấy khó thở không, có bị co giật chỗ nào không, anh có uống nhầm cái gì không. Hưng trả lời được, rõ ràng, từng câu. Không khó thở. Mờ mắt chút. Không uống. Cô bảo Lãm cho cô coi mắt anh ta. Con ngươi nhỏ hơn bình thường một chút, nhưng còn phản xạ với ánh sáng.
Cô thở ra.
– Mặc đồ sạch vô. Đi trạm y tế. Ngay.
– Tui đỡ rồi...
– Anh đi. Tôi không phải bác sĩ, tôi không biết anh ngấm bao nhiêu. Ở trạm người ta theo dõi được.
Ông Tám chạy tới, gậy chống lạch cạch, mặt trắng bệch. Ông thấy thằng cháu đang ngồi run trên bậc thềm, tóc ướt nhẹp, quấn cái khăn tắm. Ông thấy Lãm đang buộc một cái bao ni lông đựng đồ. Ông thấy Xuyến đang tháo đôi găng cao su.
Ông không hỏi gì. Ông đi tới, giơ cây gậy lên, gõ một cái vào đầu thằng cháu. Không mạnh.
– Thằng ngu. Tao nói bao nhiêu lần rồi. Hoa đang nở không có phun. Muốn chết hả mậy? Muốn giết hết ong người ta hả mậy?
Hưng ôm đầu, không cãi.
Lãm lấy xe chở Hưng với ông Tám lên trạm. Xuyến đứng ở sân nhà Hưng, nhìn chiếc bán tải chạy ra đường. Lãm không hỏi cô có đi theo không. Cô nghĩ anh biết cô sẽ không vào được.
Cô quay về vườn bà một mình.
Cô ngồi xuống cạnh dãy thùng ong. Ong chết trước mỗi cửa tổ. Cô không biết làm gì, nên cô lấy cái chổi lông mềm Lãm để trên bàn lán, quét nhẹ những con ong chết ra khỏi tấm ván cửa tổ, gom thành đống, xúc vào một cái thùng sơn cũ. Những con còn đang quay vòng vòng, cô không biết làm gì với chúng. Cô để chúng lại. Cô quét tới thùng thứ bốn mươi thì dừng, vì tay cô bắt đầu run và cô không biết là vì mệt hay vì gì khác.
Cô nghĩ tới chuyện mình đã làm sáng nay. Cô không đứng ở ngoài cửa. Cô không đông cứng. Cô đã quỳ xuống trước một người đang ngộ độc, hỏi từng câu, làm từng bước, đúng thứ tự như trong sách. Cô đã làm được, vì ở đó không có cửa kính, không có máy, không có mùi cồn. Chỉ có đất đỏ, xà phòng cục và một bể nước xây gạch.
Gần trưa, ông Tám về một mình, đi nhờ xe máy của một người trong xóm. Ông không về nhà ông. Ông đi thẳng qua vườn bà, tới dãy thùng ong, đứng nhìn đống ong chết trong cái thùng sơn. Ông đứng lâu.
– Nó ổn chưa ông?
– Ổn. Cái bà Loan nói theo dõi tới chiều, không sao thì cho về. – Ông móc thuốc ra, vấn, mà không châm. – Thằng Lãm đâu?
– Ảnh chưa về.
– Nó còn ở trên đó, đợi thằng Hưng. Tao về trước. – Ông im một lúc. – Mất bao nhiêu thùng?
– Con không biết. Con không biết đếm.
Ông Tám gật đầu. Ông ngồi xuống cạnh cô, trên một cái gốc cây.
– Hồi đó bà Tư với ba thằng Lãm cũng cãi nhau vụ này với tao. – Ông nói. – Mười mấy năm trước. Tao phun lúc hoa nở, ong ổng chết cả chục thùng. Bà Tư chửi tao ba ngày. Rồi bà ngồi xuống bày cho hai thằng đàn ông một cái lịch. Phun thì báo trước một ngày. Phun lúc chiều tối, ong về tổ hết rồi. Hoa đang nở thì đừng phun, sâu có ăn thì để nó ăn mấy bữa. Bên nuôi ong thì đêm trước đậy cửa tổ, cho ong nghỉ một ngày. – Ông thở dài. – Tao giữ được mười mấy năm. Thằng Hưng mới về làm vườn có hai năm, nó không biết. Tao không dặn nó. Lỗi tao.
Xuyến nghe ông nói. Cô nghĩ về một bà già Bình Định ngồi giữa hai người đàn ông đang giận nhau, bày ra cho họ một cái lịch.
– Ông Tám. Chiều nay anh Hưng về, ông kêu ảnh qua đây nghen. Con nói chuyện với ảnh với anh Lãm.
Ông nheo mắt nhìn cô.
– Mầy nói chuyện cái gì?
– Cái lịch của bà.
Chiều đó, Hưng về. Anh ta đã đỡ, mặt còn xanh. Anh ta qua vườn bà, đứng trước dãy thùng ong, nhìn cái thùng sơn đựng ong chết, rồi đứng trước mặt Lãm, gãi đầu.
– Anh Lãm. Tui xin lỗi. Tui không biết. Rệp sáp nó bu quá, tui sợ mất mùa.
– Ừ.
– Tui đền...
– Không cần đền. – Lãm nói. – Lần sau báo trước.
Xuyến ngồi giữa hai người, ông Tám ngồi một bên, và cô nói lại cái lịch của bà. Không thêm gì, không bớt gì. Báo trước một ngày. Phun chiều tối. Hoa nở không phun. Bên ong đậy cửa tổ. Cô lấy một tờ giấy, viết ra, chia làm bốn cột. Hưng ký. Lãm ký. Ông Tám ký thay cho vườn ông. Cột thứ tư là vườn bà. Cô nhìn nó một lúc, không biết nên ghi tên ai, rồi cô ký tên mình.
Hưng về. Ông Tám về. Lãm lấy xe ra chợ xã mua đường, nói tối nay phải nấu nước đường cho mấy đàn bị yếu. Trời chạng vạng.
Xuyến đang ngồi một mình trên hiên thì điện thoại reo.
Không phải tiếng chuông bình thường. Là tiếng chuông của một số lạ. Màn hình sáng lên một dãy mười chữ số không có tên.
Cô nhìn cái màn hình. Ngực cô thắt lại theo thói quen, một thói quen ba năm. Tay cô đã định lật úp điện thoại xuống.
Rồi cô nghĩ, trời còn sáng. Không phải ban đêm. Cô bấm nghe.
– Cô Xuyến hả? Tui, Lãm.
Cô thở ra.
– Dạ.
– Tui lấy số cô... – Anh ngập ngừng. – Tui có số cô lâu rồi. Chị Loan mới gọi tui. Chị nói tối nay thằng Hưng mà có mệt lại thì chở lên, mà chắc không sao, nhờ cô xử lý đúng nên nó nhẹ. Chị dặn tui nói lại với cô. Tui đang ở chợ. Cô có cần mua gì không?
– Không cần. Cảm ơn anh.
– Dạ.
Anh cúp máy.
Xuyến cầm điện thoại. Màn hình vẫn còn hiện dãy số vừa gọi đến. Cô định bấm lưu, gõ chữ "Lãm".
Cô dừng lại ở câu "tui có số cô lâu rồi".
Cô nhìn dãy số. Mười chữ số. Bắt đầu bằng không chín. Kết thúc bằng một bảy bốn.
Một bảy bốn.
Cô kéo nhật ký cuộc gọi xuống. Kéo mãi. Những cuộc gọi của cậu Ba, của chủ nhà trọ, của mấy đồng nghiệp cũ hỏi thăm mà cô không bắt máy, của người giao hàng. Kéo qua tháng Mười Hai, tháng Mười Một, tháng Mười. Ngón tay cô run. Kéo tới tháng Chín.
Ngày mười lăm tháng Chín, sáu giờ mười, cậu Ba. Có tên.
Ngày mười bốn tháng Chín. Sáu dòng. Sáu cuộc nhỡ, chữ đỏ. Từ chín giờ năm mươi hai tối tới mười một giờ bốn mươi. Cùng một số. Không có tên.
Kết thúc bằng một bảy bốn.
Xuyến ngồi trên bậc hiên, điện thoại trong tay, cho tới khi trời tối hẳn. Cô nghe tiếng chiếc bán tải chạy vào lối vào, tiếng cửa xe đóng, tiếng chân anh đi về phía lán. Đèn lán sáng lên.
Cô không đứng dậy.
— Hết chương 8 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe