Chương 11: Năm nay không có ba mươi
– Năm nay tháng Chạp thiếu – ông Tám nói, giơ cái lịch bloc lên trước mặt Xuyến như giơ bằng chứng. – Hai mươi chín là giao thừa luôn. Không có ba mươi. Mầy coi, tờ hai mươi chín rồi lật qua là mùng một. Gói bánh thì gói hai mươi tám, nấu đêm hai mươi tám, sáng hai mươi chín vớt. Trễ là ăn Tết bằng bánh mì.
Vậy nên sáng hai mươi tám, hiên nhà bà biến thành một cái xưởng.
Lá chuối Lãm chặt từ bụi chuối sau lán, chặt từ chiều hôm trước, lau sạch từng tàu, hơ qua lửa cho mềm, xếp thành chồng cao bằng đầu gối. Nếp ông Tám vo từ tối, trộn với nước lá dứa giã cho hạt nếp có màu xanh nhạt và thơm. Đậu xanh H'Lim đã đãi vỏ, đồ chín, đánh nhuyễn, nắm thành từng khúc dài như cổ tay. Thịt ba chỉ Xuyến mua ở chợ xã, xắt thành từng thỏi dài, ướp muối tiêu với hành tím. Lạt buộc Y Kriêng chẻ từ tre, mỏng và dẻo, ngâm trong xô nước.
Gói bánh tét thì chỉ ông Tám với Lãm biết. H'Lim chỉ quen gói bánh chưng vuông, chưa gói bánh tét bao giờ. Xuyến thì không biết gì.
– Coi đây – ông Tám nói.
Ông trải hai lớp lá chuối chéo nhau, rải một lớp nếp, đặt khúc đậu xanh vào giữa, đặt thỏi thịt lên trên, phủ thêm nếp, rồi cuộn lại. Hai bàn tay ông già, gân xanh nổi lên, cuộn cái bánh tròn trịa, chặt và đều như cuộn một tấm chiếu. Ông gấp hai đầu lá lại, dựng đứng cái bánh lên, nện nhẹ xuống mặt chiếu cho nếp dồn xuống. Rồi ông buộc lạt. Năm sợi lạt dọc, ba sợi lạt ngang, mỗi sợi siết một cái nghe sột.
– Bánh tét mà buộc lỏng thì nấu xong nó bở, cắt ra nó rã. Phải siết. Siết tới khi lạt nó cắn vô lá.
Xuyến gói cái đầu tiên. Nếp lòi ra hai đầu, lá chuối rách, cái bánh méo như một trái bí đao bị ai ngồi lên. Ông Tám cầm nó lên, ngắm, rồi đặt xuống, nói một câu mà ai cũng cười:
– Bánh này cúng ông bà, ông bà thấy, ông bà tưởng con cháu đói.
H'Rin cười to nhất. Con bé ngồi trên chiếu, cái chân phải đã tháo băng, trên cẳng chân còn một đường sẹo hồng nhạt dài bốn đốt ngón tay, bảy chấm chỉ khâu đã thành bảy chấm mờ. Nó được giao việc nhặt lá chuối rách bỏ ra, mà nó nhặt cả lá lành, rồi lấy lá chuối làm nón đội lên đầu.
Lãm gói cái bánh thứ hai cạnh Xuyến. Anh gói chậm, cố ý chậm, để cô coi theo. Anh không nói gì, chỉ thỉnh thoảng nghiêng tay cho cô thấy chỗ ngón cái đè lên mép lá. Cô gói cái thứ hai. Đỡ méo hơn. Cái thứ ba, thứ tư. Tới cái thứ bảy, ông Tám cầm lên, ngắm, gật đầu, không nói gì. Đó là lời khen.
Họ gói được hai chục cái bánh. Mười đòn bánh tét mặn, sáu đòn ngọt nhân chuối, và bốn cái bánh chưng vuông H'Lim gói bằng khuôn gỗ, chị nói H'Rin thích bánh vuông hơn bánh tròn.
Chiều, Lãm với Y Kriêng khiêng cái nồi nhôm lớn nhất xóm, của nhà ông Hai đầu xóm cho mượn, ra sân sau nhà bà, bắc lên ba cục đá ong. Củi cà phê khô chất đống, mấy khúc gỗ muồng chẻ đôi. Họ xếp bánh vào nồi, xếp đứng, đổ nước ngập, đậy nắp, nhóm lửa.
Bánh tét phải nấu mười mấy tiếng. Phải canh lửa, phải châm nước sôi khi nước cạn. Mỗi người canh một phiên.
Xuyến nhận phiên khuya, từ mười giờ đêm tới hai giờ sáng. Lãm nhận phiên từ hai giờ tới sáng. Nhưng tới mười giờ, lúc cô ra sân sau với cái ghế đẩu và cái áo khoác, anh đã ngồi đó.
– Phiên tôi mà.
– Tui ngồi chơi.
Cô ngồi xuống. Lửa trong lò reo tí tách. Mặt nồi sôi lục bục, hơi nước bốc lên mang mùi lá chuối chín, mùi nếp, mùi thịt mỡ. Gió đêm lạnh, nhưng ngồi gần lò thì ấm. Hai người ngồi hai bên lò, cách nhau một cái nồi. Ánh lửa nhảy múa trên mặt anh.
Họ nói chuyện. Không có gì quan trọng. Chuyện lá chuối nào gói bánh mới ngon. Chuyện con Mực năm ngoái ăn vụng một đòn bánh tét bị ông Tám rượt chạy ba vòng vườn. Chuyện hồi nhỏ ở Sài Gòn, Tết nào cô cũng phụ má bán vải tới chiều ba mươi, tối giao thừa ngủ gục trên đống vải trong sạp. Cô không nói tới Tín, dù Tết nào trong sạp vải đó cũng có Tín ngủ gục bên cạnh cô.
Gần nửa đêm, Lãm vào lán, rồi quay ra, tay cầm một cái gói giấy báo.
– Cái này. Tết.
Xuyến mở ra.
Là một cái nón lưới nuôi ong. Không phải cái nón rộng thùng thình anh cho cô mượn hôm quay mật. Nón nhỏ hơn, vành nón vừa đầu cô. Lưới đen mới, mịn, may vào vành bằng những mũi chỉ đều tăm tắp. Ở phía dưới, chỗ lưới chùm xuống vai, có một vòng dây thun may kín, để thắt quanh cổ không cho ong lọt vào.
Cô đội thử. Vừa khít.
– Anh đo đầu tôi hồi nào?
– Tui không đo. Tui nhìn. – Anh nhún vai. – Cái nón tui cho cô mượn, cô phải đẩy lên bốn lần trong một buổi. Tui đếm. Nên tui đem cái cũ ra, tháo lưới, cắt vành nhỏ lại bốn phân, may lưới mới.
– Anh tự may?
– Ba tui dạy. Người nuôi ong phải biết may lưới. Lưới rách một lỗ bằng hạt đậu là ong chui vô.
Xuyến nhìn anh qua lớp lưới đen. Ánh lửa bên ngoài nhòe đi thành những đốm cam.
– Để làm gì vậy anh?
– Để mùa sau cô khỏi bị đốt ngay cổng.
Anh nói "mùa sau". Cô nghe. Anh cũng nghe mình nói, và anh quay đi châm thêm một khúc củi vào lò, khúc củi lớn quá, lửa bùng lên cao.
Bánh vớt lúc sáu giờ sáng hai mươi chín. Ông Tám vớt từng đòn, đặt lên một tấm ván kê nghiêng cho ráo nước, rồi lấy dao tre cắt thử một khoanh. Nếp xanh nhạt, dẻo quánh, nhân đậu vàng óng, thỏi thịt trong như hổ phách. Ông ăn một miếng, nhai kỹ, nhìn lên trời.
– Được.
Chiều hai mươi chín, Xuyến cúng tất niên. Mâm cúng có một đòn bánh tét, một dĩa thịt kho trứng, nồi canh khổ qua dồn thịt, dĩa dưa hành, mấy trái quýt, bình mai rừng đã nở được ba bông. Cô thắp nhang, khấn bà, khấn ông ngoại mà cô không còn nhớ mặt, khấn ba. Khấn tới Tín thì cô ngừng. Cô đứng im một lúc. Rồi cô nói thầm một câu duy nhất, mà khói nhang bay ngang qua mặt, cô không chắc mình có nói thành tiếng hay không.
Tối giao thừa, Lãm rủ cô ra dốc đầu xóm.
Đó là một quả đồi trọc, cao nhất vùng, trên đỉnh có một cây kơ nia già. Từ đó nhìn về phía đông bắc, xa tít, là một quầng sáng mờ mờ ở chân trời. Lãm nói đó là thành phố, cách ba mươi lăm cây số. Nửa đêm người ta bắn pháo hoa ở đó, đứng đây thấy được.
Trời không trăng. Đêm giao thừa bao giờ cũng không trăng. Sao dày đặc, nhiều tới mức Xuyến thấy choáng. Ở Sài Gòn cô chưa bao giờ thấy nhiều sao như vậy. Dải Ngân Hà vắt ngang trời như một vệt sữa đổ.
Họ ngồi trên một tảng đá dưới gốc kơ nia. Gió trên đồi thổi mạnh, lạnh buốt. Cô kéo cổ áo khoác lên. Lãm cởi cái khăn quàng của mình ra, đưa cho cô. Cô quấn vào. Cái khăn có mùi khói bếp và mùi sáp ong.
– Năm ngoái giao thừa anh ở đâu?
– Ở đây. Với bà Tư.
– Bà leo lên đây được hả?
– Tui chở bà bằng xe máy tới chân đồi. Rồi tui cõng.
Xuyến im. Gió vẫn thổi.
– Bà nói gì?
– Bà nói, năm sau chắc bà không lên được nữa. Bà nói, năm sau chắc có đứa khác lên.
Ở xa, nơi chân trời, một đốm sáng nhỏ bắn lên, nở ra thành một bông hoa vàng li ti, rồi tắt. Rồi một đốm nữa, màu đỏ. Rồi một đốm xanh. Pháo hoa ở thành phố, nhìn từ ba mươi lăm cây số, chỉ to bằng đầu ngón tay, không có tiếng, như những bông hoa nở trong im lặng.
Xuyến ngồi nhìn những bông hoa im lặng đó. Cô nghĩ về câu "năm sau chắc có đứa khác lên". Cô nghĩ về hai chữ "về trước". Cô nghĩ về một bà già ngồi trên tảng đá này năm ngoái, quấn khăn, nhìn về phía đông bắc, xa hơn cả thành phố, về phía Sài Gòn mà từ đây không thể nào thấy được.
Bàn tay cô đặt trên mặt đá lạnh. Một bàn tay khác đặt xuống cạnh đó. Không chạm. Cách một đốt ngón tay.
Cô nhìn xuống. Cô thấy bàn tay anh, những vết sẹo nhỏ li ti trên mu bàn tay, vết của bao nhiêu năm ong đốt. Cô thấy ngón tay út của anh nhích lại gần một chút, rồi dừng, như một con ong lạ đáp xuống cửa tổ, đứng im, đợi.
Xuyến lật bàn tay mình lên, đặt vào tay anh.
Tay anh ấm. Thô. Anh nắm lại, chậm, nhẹ, như sợ làm rơi.
Ở phía chân trời, một chùm pháo hoa lớn nở ra, nhiều màu, rồi tàn.
– Chúc mừng năm mới – Lãm nói. Giọng anh khàn hơn bình thường.
– Chúc mừng năm mới – Xuyến nói. Rồi cô nói thêm, rất nhỏ, gần như chỉ để mình nghe: – Năm nay em không về Sài Gòn.
Cô nói "em". Cô không định. Nó tự ra, như một hơi thở.
Bàn tay anh siết lại một chút.
Họ ngồi trên đồi tới khi chân trời tối hẳn, không còn đốm sáng nào. Rồi họ đi xuống, tay vẫn nắm, Lãm soi đèn pin, ánh sáng trắng, vì ở đây không có ong.
Sáng mùng một, ông Tám xông đất. Ông nói ông già rồi, tuổi ông cũng chẳng hợp với ai, mà bà Tư năm nào cũng bắt ông xông, quen rồi. Ông mặc áo sơ mi trắng, quần tây, đội cái nón phớt cũ, tay cầm một bao lì xì đỏ, đi bộ từ nhà ông qua nhà bà lúc sáu giờ sáng.
Tới cổng, ông dừng lại.
Chiếc xe bán tải màu xám bạc đậu ngay trước cổng nhà bà, đầu xe quay ra đường. Kính xe mờ hơi sương. Bên trong, Lãm ngồi ở ghế lái, ngả lưng ra sau, áo khoác kéo lên tận cằm, ngủ say. Trên táp lô có một cái bình giữ nhiệt và cây đèn pin.
Ông Tám đứng nhìn một lúc. Rồi ông gõ cây gậy vào cửa kính xe, cộc cộc.
Lãm giật mình mở mắt.
– Thằng này – ông Tám nói, giọng to đủ để Xuyến đang đứng trong nhà nghe rõ từng chữ. – Mầy canh ong hay mầy canh người?
— Hết chương 11 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe