Chương 14: Người từ khoa cũ
Nồi cá nục kho đang sôi liu riu trên bếp thì có tiếng xe hơi dừng ngoài đường liên thôn.
Xuyến đang nêm lại. Cô đã nêm ba lần. Cá nục mua ở chợ xã từ sáng sớm, mười con, mắt còn trong. Cô làm sạch, ướp nước mắm, đường, tiêu, hành tím đập dập, để một tiếng. Thắng đường thành nước màu cánh gián trong cái nồi đất của bà. Xếp cá vào, chế nước dừa tươi Y Sơn hái cho từ cây dừa trước nhà H'Lim. Lửa nhỏ. Kho tới khi nước sệt lại, bóng lên, bám vào thân cá.
Cô đã gọi điện hỏi má cách kho. Má trả lời cộc lốc, như mọi khi, nhưng trả lời rất kỹ, dặn tới cả chuyện phải lót mấy lát gừng dưới đáy nồi cho cá khỏi dính. Rồi má hỏi "kho cho ai ăn mà kỹ dữ vậy", cô nói "cho con", má hừ một tiếng rồi cúp máy.
Hôm nay là thứ Bảy. Lãm hẹn chiều về coi ba thùng ong, như mọi ba ngày. Mười một ngày từ hôm anh bắt đầu chở ong đi, anh đã về hai lần. Lần nào cũng chiều tới, coi ong, ăn cơm, ngồi ở hiên tới tối, rồi lái xe bốn chục cây số về lại lán cao su. Lần nào cũng là anh nấu.
Lần này cô muốn nấu.
Tiếng chân lên dốc. Không phải tiếng chân Lãm. Tiếng giày da, bước ngắn, hơi lúng túng trên sỏi đỏ.
Xuyến ra hiên.
Người đàn ông đứng giữa sân mặc áo sơ mi xanh nhạt, quần tây, đeo kính gọng mảnh, tay xách một túi giấy. Anh ta nhìn quanh như người lạc đường, rồi nhìn thấy cô, và mặt anh ta giãn ra.
– Xuyến.
– Anh Quân?
Đặng Hoài Quân. Bác sĩ hồi sức, cùng khoa với cô bốn năm. Người vẫn hay để dành cho cô một ly cà phê sữa đá trong tủ lạnh phòng trực mỗi khi cô làm ca sáng. Người mà cả khoa đều biết là thích cô, trừ cô, cho tới khi một chị điều dưỡng trưởng nói thẳng ra trong một bữa liên hoan. Người đã đứng ở hành lang khoa cấp cứu đêm mười một tháng Ba, ba năm trước.
– Sao anh biết em ở đây?
– Anh gọi em không được. Anh hỏi chị Thủy, chị Thủy hỏi má em. – Anh cười, cái cười ngượng ngập quen thuộc. – Anh lên thành phố dự hội nghị hồi sức của khu vực, ba ngày. Sáng nay xong sớm, anh thuê xe chạy vô. Anh xin lỗi không báo trước.
Cô mời anh ngồi. Cô pha trà, loại trà xanh Lãm vẫn nấu. Quân đặt cái túi giấy lên bàn. Bên trong là một hộp bánh pía, một gói cà phê bột của một tiệm quen gần bệnh viện mà cả khoa hay mua, và một phong bì trắng.
– Của chị Thủy gửi, của anh Phát gửi, của anh. – Anh chỉ từng thứ. – Còn cái này của thầy Long.
Cô mở phong bì. Một lá thư đánh máy, có chữ ký của trưởng khoa. Ngắn gọn: khoa vẫn giữ một vị trí điều dưỡng cho cô tới hết tháng Sáu, mong cô cân nhắc quay lại.
Cô đọc xong, gấp lại, để lên bàn.
Họ nói chuyện. Quân kể chuyện khoa. Ai lấy chồng, ai sinh con, ai chuyển sang bệnh viện tư. Khoa mới thay một loạt máy thở, máy mới kêu nhỏ hơn máy cũ, mà ai cũng nói nghe nó kêu khó chịu hơn. Chị Thủy nhắc cô hoài. Mấy bạn điều dưỡng mới vào hỏi "chị Xuyến đặt kim một lần là trúng" là ai.
Xuyến nghe, cười đúng chỗ, hỏi đúng chỗ. Cô thấy mình như đang nghe kể về một người khác, một người cô từng biết rất rõ, mà giờ đã đi xa.
– Em ổn không? – Quân hỏi. Anh hỏi kiểu bác sĩ, nhìn thẳng vào mắt, đợi.
– Em ổn.
– Em ăn được không? Ngủ được không?
– Được. – Cô ngừng. – Đỡ rồi.
Quân gật đầu. Anh nhìn ra vườn cà phê, nhìn những hàng cây xanh mướt trĩu trái non.
– Từ đêm đó – anh nói, chậm, như sợ mỗi chữ là một mũi kim – em không xin nghỉ ngày nào. Hai năm rưỡi. Ca nào cũng nhận. Ca đêm nhận gấp đôi. Chị Thủy nói với anh, con nhỏ này nó không làm việc, nó trốn vô việc. Anh biết, mà anh không biết phải làm gì. Rồi tháng Chín bà em mất, em nộp đơn nghỉ, hết tháng Mười em đi. Không ai kịp nói gì.
Xuyến nhìn xuống chén trà.
– Anh xin lỗi – anh nói tiếp. – Đêm đó anh kéo em ra khỏi cửa. Anh không cho em vô. Anh nghĩ đó là đúng, người nhà thì không được vô. Mà sau đó anh nghĩ hoài, nếu anh để em vô, em đứng cạnh nó, có khác gì không.
– Không khác gì đâu anh.
Cô nói vậy, và cô biết mình nói đúng. Tín đến khoa cấp cứu với một vết thương ở đầu mà không ai cứu được. Cô đứng ngoài hay đứng trong cũng vậy. Cô biết điều đó bằng đầu óc của người làm nghề. Phần còn lại của cô thì không biết.
– Anh có làm đúng – cô nói. – Em cảm ơn anh.
Quân im lặng một lúc lâu.
Rồi có tiếng xe bán tải ngoài đường liên thôn.
Xuyến nghe tiếng máy xe quen thuộc. Cô đứng dậy, đi ra đầu hiên. Chiếc xe màu xám bạc đậu cạnh chiếc xe hơi thuê màu đen của Quân. Lãm bước xuống, tay xách một cái giỏ tre, trong giỏ có mấy trái sầu riêng non và một bó rau rừng. Anh nhìn chiếc xe hơi đen. Anh đứng lại một nhịp. Rồi anh đi lên dốc.
– Anh Lãm. Đây là anh Quân, bác sĩ cùng khoa với em hồi ở Sài Gòn. Anh Quân, đây là anh Lãm, người... – Cô ngừng. – Người nuôi ong ở vườn bà.
Hai người đàn ông bắt tay. Quân đứng dậy, bắt bằng hai tay, kiểu lịch sự của người thành phố. Lãm bắt bằng một tay, chắc, ngắn.
– Chào anh.
– Chào anh. Anh nuôi ong hả? Hay quá. Anh nuôi bao nhiêu đàn?
– Tám mươi sáu.
– Trời. Vậy mỗi mùa được bao nhiêu mật?
Lãm trả lời. Ngắn, rõ. Quân hỏi tiếp. Lãm trả lời tiếp. Quân là người dễ thương, hỏi thật lòng, tò mò thật lòng, và Lãm trả lời lễ phép, đúng mực, không thừa chữ nào. Xuyến đứng giữa hai người, nghe cuộc nói chuyện qua lại như hai người đánh cầu lông mà quả cầu lúc nào cũng rơi ngay sau một cú đánh.
– Anh xuống coi ong – Lãm nói, đặt cái giỏ tre lên đầu hiên. – Sầu riêng non ông Tám cho, để nấu canh.
Anh đi xuống cuối vườn. Xuyến nhìn theo. Ở dãy thùng cuối, anh đội nón lưới, mở nắp thùng số 7, cúi xuống coi. Rồi thùng thứ hai, thứ ba. Anh làm lâu hơn bình thường.
Quân cũng nhìn theo.
– Anh ấy... – Quân bắt đầu.
– Ảnh giúp em nhiều lắm – Xuyến nói.
Quân gật đầu, chậm. Anh ngồi xuống lại, cầm chén trà đã nguội.
– Xuyến – anh nói. – Anh hỏi thẳng em một câu, em đừng giận. Không phải anh hỏi vì anh. Anh hỏi vì khoa. Em còn muốn làm hồi sức không?
Câu hỏi rơi xuống giữa hai người như một cái muỗng rơi xuống nền gạch.
Xuyến mở miệng định trả lời. Rồi cô đóng lại.
Cô nghĩ tới cái máy kẹp ngón tay của ông Hai Đức, tới việc xoa tay ông cho tới khi con số nhảy lên. Cô nghĩ tới cậu thanh niên say rượu nôn ở lần hỏi thứ năm, tới việc cô biết phải làm gì trước khi chị Loan kịp quay lại. Cô nghĩ tới cái lá thư đánh máy có chữ ký thầy Long. Cô nghĩ tới hành lang khoa hồi sức, những cái giường xếp hàng, những cái máy, những tiếng bíp, mười hai tiếng một ca, không có cửa sổ.
Cô nghĩ tới một khoa hồi sức mà cô bước vào mà không phải đếm hơi thở.
Cô không thấy được.
– Em không biết – cô nói. Đó là câu thật nhất cô có.
Quân nhìn cô. Anh không thất vọng. Anh chỉ gật đầu, như một bác sĩ vừa nhận một kết quả xét nghiệm không bất ngờ.
– Không biết cũng là một câu trả lời. Tới tháng Sáu còn ba tháng.
Dưới vườn, Lãm đã đậy nắp thùng cuối cùng. Anh không quay lên hiên. Anh đi thẳng ra chỗ chiếc xe bán tải. Xuyến thấy anh dừng lại cạnh cửa xe, quay đầu nhìn lên. Anh giơ tay lên chào. Một cái vẫy tay ngắn.
Rồi anh lên xe, nổ máy, lùi ra đường.
Xuyến đứng dậy, bước tới mép hiên. Chiếc xe đã chạy khuất sau hàng bơ.
Anh không ăn cơm. Anh không ngồi ở hiên tới tối. Anh không hỏi cô có muốn anh ở lại không. Anh đến, coi ong, để lại giỏ sầu riêng non, rồi đi, chưa tới một tiếng đồng hồ.
Trong bếp, nồi cá nục kho đã sôi cạn. Mùi khét nhẹ bay ra.
Xuyến chạy vào bếp, nhấc nồi xuống. Đáy nồi đã cháy một lớp mỏng, đen. Cá vẫn còn ăn được, phần trên vẫn bóng, vẫn đẹp, chỉ có mấy con dưới cùng dính đáy. Cô đứng nhìn cái nồi. Mười con cá nục. Cô đã kho cho hai người.
Quân ở lại ăn cơm. Anh khen cá ngon. Anh ăn hai chén. Anh nói chuyện vui, kể những chuyện cười ở khoa, chuyện thầy Long hồi trẻ đi trực ngủ gục trên cái ghế đẩu bị té xuống đất. Xuyến cười. Cô cười thật. Quân là người tốt, và cô biết ơn anh vì đã chạy ba mươi lăm cây số vào tận đây.
Nhưng trong suốt bữa cơm đó, mỗi lần có tiếng xe máy chạy ngoài đường liên thôn, cô đều ngẩng lên.
Quân về lúc năm giờ chiều. Anh đứng ở cổng, nói chuyến bay của anh sáng mai. Anh nói nếu cô cần gì thì gọi anh, bất cứ lúc nào. Anh nói câu đó, nhìn cô một lúc, rồi nói thêm:
– Anh nuôi ong đó – anh nói – nhìn em giống y như hồi trước em nhìn cái máy theo dõi. Không rời mắt ra được.
Anh lên xe, đi.
Tối đó, Xuyến cầm điện thoại, đợi. Mấy lần trước, tối nào về tới lán cao su anh cũng nhắn một tin, ngắn: "Tới rồi." Tối nay không có.
Tám giờ. Chín giờ. Mười giờ.
Cô gõ: "Anh tới chưa?" Rồi xóa. Gõ: "Sao anh về sớm vậy?" Rồi xóa. Gõ: "Em có kho cá nục." Cô nhìn câu đó rất lâu. Rồi cô xóa.
Cô không gửi gì.
Thứ Ba tuần sau là ngày ba ngày. Cô đợi từ trưa. Cô ra cuối vườn ngồi cạnh thùng số 7, nhìn ong bay ra bay vào. Ong vẫn chăm chỉ, vẫn mang về những cục phấn hoa vàng nhạt dính ở chân sau, phấn hoa bơ, phấn hoa cỏ. Ba thùng ong không biết người chủ của chúng không về.
Chiều tối thứ Ba, chiếc xe bán tải không về.
— Hết chương 14 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe