Chương 35: Người nhận thùng số 7
Y Sơn đứng trước thùng số 7, hai tay chắp sau lưng như học trò đứng trước bảng, và Lãm đứng cách nó mười bước, đọc từng câu như đọc bài.
– Đàn này dữ. Con chúa này thay hồi tháng Năm, đẻ khỏe. Mùa khô mà để thiếu chỗ là nó bốc bay. Mở nắp thì đứng bên trái, đừng đứng trước cửa. Hun khói ba hơi, đợi đếm tới mười rồi mới mở. Ong đàn này không ưa mùi mồ hôi, trưa nắng đừng mở.
– Dạ.
– Bốn năm nay anh nuôi nó. Trước đó thằng Tín nuôi hai tháng.
– Dạ. Em biết anh.
– Ừ. – Lãm im một chút. – Giờ em nuôi.
Đó là buổi sáng thứ Bảy giữa tháng Mười Hai, nắng hanh, gió đầu mùa khô thổi qua hàng muồng làm lá muồng rụng lả tả. Ở đầu hiên lán, trên cái bàn gỗ, có một tờ giấy học trò kẻ ô li viết bằng bút bi xanh. Chữ của Lãm, nhỏ và thẳng hàng. "Giấy giao đàn ong." Tám mươi lăm thùng, kể cả ba thùng vỡ đã dựng lại. Y Sơn trả dần trong ba năm, mỗi mùa một phần, trả bằng mật hay bằng tiền tùy năm. Lán ở vườn bà, Y Sơn ở. Bốn mươi sáu thùng ở Ea Kênh, Y Sơn chở về đặt ở hai sào đầu vườn bà với một vườn thuê bên xã bên. Hai thùng không nằm trong tờ giấy. Thùng số 7 ở yên chỗ cũ, sát ranh ông Tám, Y Sơn nuôi giùm, không tính tiền, không bán. Cái thùng trắng chia ra hồi tháng Chín nằm cạnh nó, cũng không bán, vì nó có chủ rồi.
Cuối tờ giấy có hai chữ ký. Bên dưới, Xuyến ký làm chứng. Ông Tám cũng đòi ký, ông nói ông là hàng xóm sát ranh, ông phải biết ong của ai nằm cạnh vườn ông. Ông ký ba chữ "Lê V. Tám" run run, rồi đứng nhìn tờ giấy rất lâu.
– Hồi đó bà Tư cũng viết tờ y vầy cho mầy – ông nói với Lãm. – Giấy học trò. Mực xanh.
– Dạ. Con chép theo.
Y Sơn nhận cái bình hun khói từ tay Lãm. Thằng nhỏ cầm nó bằng hai tay, như cầm một cái gì quý. Rồi nó đội nón lưới, đeo găng, đi xuống dãy thùng. Lãm không đi theo. Anh đứng ở đầu hàng muồng, áo khoác kín cổ, cái hộp nhựa trắng trong túi, nhìn theo.
Xuyến đứng cạnh anh.
Một tháng nay anh tập đứng xa. Ngày đầu, cô thấy hai bàn tay anh cứ nắm lại mở ra trong túi áo mỗi lần Y Sơn nhấc một cầu ong lên mà nghiêng sai một chút. Ngày thứ mười, anh chỉ còn nói "nghiêng chút nữa". Ngày thứ hai mươi, anh ngồi trên bậc hiên nhà bà, uống trà, nhìn xuống, không nói gì cả. Anh nói anh vẫn nghe được tiếng ong. Anh nói đứng xa mười bước thì nghe nó khác, như nghe tiếng mưa từ trong nhà thay vì đứng ngoài sân.
Buổi chiều, anh xuống thành phố với Oanh. Cái xưởng nhỏ đã thuê được ở rìa thành phố, gần chỗ điểm thu mua cũ của Oanh. Ba cái bồn inox, một cái máy lọc anh Vũ sửa lại, một phòng kín có máy hút ẩm. Lãm đi từng vườn nuôi ong trong mấy xã quanh đây, đo mật, mua mật, đem về lọc, đóng chai. Không có con ong nào trong xưởng. Anh nói anh làm cái việc ba anh không bao giờ làm, ba anh chỉ biết nuôi. Oanh thì nói ổng làm ba tháng mà khó tính hơn tui làm mười năm, mật nào trên hai mươi độ ẩm là ổng trả về.
Đầu tháng Mười Hai, văn phòng công chứng gọi Xuyến xuống ký văn bản khai nhận thừa kế. Hết mười lăm ngày niêm yết, không ai có ý kiến gì. Cô gái giọng Huế đẩy tập hồ sơ qua bàn, chỉ chỗ cho cô ký. Phần đăng ký sang tên còn phải chờ bên đất đai làm thêm mấy tuần nữa, nhưng cô gái nói xong phần khó rồi. Xuyến ký. Lúc về, cô ghé một tiệm văn phòng phẩm ở chợ thành phố, mua một cây bút lông dầu màu đen.
Má lên vào ngày hai mươi bốn tháng Mười Hai.
Lần này má mang theo một va li thật, không phải cái giỏ nhựa. Má nói má gửi hẳn sạp vải cho bà Sáu bán ba tháng, má lên ăn Tết ở đây, ra Giêng má mới tính. Má xuống xe ở ngã ba Ea Tơ lúc trời chưa sáng, đi xe ôm vào. Lãm ra cổng đón, xách va li, má để anh xách, không nói gì, chỉ đi bên cạnh, và Xuyến thấy má vịn tay vào cánh tay anh một lần ở đoạn dốc trơn.
Thứ Bảy hai mươi sáu, bà Thơ lên.
Lãm chở bà từ Ea Kênh, trên xe có một giỏ cau, một buồng chuối, một chai rượu, một hộp trà. Bà Thơ mặc áo dài màu nâu, cái áo dài duy nhất bà có, Lãm nói bà mặc lần cuối hồi đám cưới chị họ anh tám năm trước. Bà ôm theo một cái gói vải trong lòng, ôm suốt hai mươi lăm cây số, không cho ai cầm.
Không có ai mời người làm mai, không có mâm quả. Hai bà má ngồi ở bộ ván gỗ giữa nhà, trước bàn thờ bà Tư, trà rót ra hai cái chén sành. Ông Tám ngồi một bên, mặc áo sơ mi trắng, nói ông là người lớn tuổi nhất xóm, ông phải ngồi. Xuyến đứng ở cửa bếp, không biết đứng đâu cho đúng. Lãm đứng giữa nhà, mặc cái áo sơ mi tay dài cài kín nút, hai tay buông thõng.
Anh thắp ba nén nhang lên bàn thờ bà trước. Rồi anh quay lại, đứng trước mặt má.
– Cô – anh nói. – Con xin cô cho con cưới Xuyến.
Má nhìn anh. Má nhìn lâu, như hôm ở cổng vườn hồi tháng Sáu.
– Cô không cho thì nó cũng cưới – má nói. – Con hỏi nó đi.
Ông Tám cười khục khục trong cổ. Bà Thơ lấy vạt áo dài chấm mắt.
Lãm quay sang nhìn Xuyến. Anh đi tới chỗ cô đứng ở cửa bếp. Anh rút trong túi áo ra một cái hũ thủy tinh nhỏ, loại nửa lít, trống không, nắp nhựa đỏ, bọc ni lông, quấn dây thun hai vòng. Trên thân hũ có dán một miếng băng keo giấy vàng nhạt, chữ viết bằng bút lông dầu đen. Chữ của anh, nhỏ, thẳng, mà anh đã cố viết cho nghiêng, cố uốn cái chữ "đ" cho có cái đuôi cong vòng lên như móc câu.
"Mùa 2027 – để cho con Xuyến."
Xuyến cầm cái hũ trống. Cô đọc dòng chữ. Cô đọc lần nữa.
– Anh kêu em là "con" hả?
– Anh chép y chữ bà. – Lãm nói. Hai tai anh đỏ lựng. – Bà kêu sao anh kêu vậy.
Ông Tám bật cười thành tiếng. Má cũng cười. Bà Thơ cười trong nước mắt.
– Hũ này trống – Xuyến nói.
– Ừ. Mùa hoa tới anh quay, anh đổ vô. – Anh dừng. – Anh không mở thùng được nữa. Mà quay mật thì anh quay được. Năm nào anh cũng quay một hũ, dán một cái nhãn. Em cho anh dán tới năm nào thì anh dán tới năm đó.
Xuyến nhìn anh. Rồi cô quay vào trong, đi tới cái tủ gỗ, mở cánh phải.
Hũ năm hai ba đã vơi hơn nửa. Hũ năm hai bốn vơi một phần ba. Hũ năm hai lăm còn nguyên, mật vàng hổ phách đã bắt đầu đục ở đáy. Và cạnh đó, cái hũ nhỏ nửa lít anh cho cô hồi tháng Giêng, hũ mật đầu mùa của vườn bà, cái hũ duy nhất không có nhãn. Giờ đã có.
Cô đã dán nó từ tối hôm cô mua cây bút lông dầu. Cô viết bằng chữ của cô, đứng, tròn, chữ của người quen ghi hồ sơ bệnh án.
"Mùa 2026 – để cho anh Lãm."
Cô đem nó ra, đặt vào tay anh.
Lãm nhìn cái nhãn. Anh không nói được gì. Anh chỉ cầm cái hũ bằng hai tay, như Y Sơn cầm cái bình hun khói buổi sáng.
– Em chịu – Xuyến nói, nhỏ, chỉ đủ cho anh nghe. Rồi to hơn, cho cả nhà nghe: – Con chịu, má.
Bà Thơ đứng dậy. Bà mở cái gói vải bà ôm trong lòng suốt đường lên. Bên trong là một cái hũ thủy tinh nhỏ màu nâu sẫm, nắp sắt đã gỉ.
– Hũ mật đầu tiên ba hắn quay – bà nói. – Năm chín mươi hai. Ổng nói chừng mô ổng chết mới mở. Ổng chết mười năm rồi, tui để thêm cho tới bữa ni. – Bà đặt cái hũ lên bộ ván. – Bữa ni là bữa mở.
Bà vặn nắp. Nắp gỉ, bà vặn không ra. Lãm cầm lấy, lót cái khăn, vặn. Nắp bật ra một tiếng khô.
Mật bên trong đen như mật mía, đặc quánh, kết lại thành một khối. Xuyến lấy cái muỗng nhỏ, xắn một chút. Mật không chảy, phải cạy ra như cạy một miếng đường thẻ. Cô đưa cho bà Thơ trước. Rồi má. Rồi ông Tám. Rồi Lãm. Rồi cô.
Ba mươi bốn năm.
Ngọt. Một thứ ngọt sẫm, sâu, như đường thắng để lâu trên bếp. Có mùi gỗ. Có mùi khói. Và ở dưới cùng, rất xa, một chút hương hoa, không biết hoa gì, của một mùa hoa năm chín mươi hai. Mùa đó, ở một xã nào đó của Đắk Lắk, một người đàn ông Quảng Ngãi nghèo lần đầu tiên quay được mật từ mấy thùng ong của chính mình.
Ông Tám ngậm muỗng mật, nhắm mắt lại. Rồi ông nói, như nói với ai đó không có trong nhà:
– Mật để lâu không hư. Bà Tư nói hoài. Đúng thiệt.
Mùng bảy tháng Một Tây năm sau, tưới đợt một.
Mầm hoa trên cành cà phê đã đủ, nhú lên từng cụm nhỏ xanh nhạt ở mỗi đốt lá, ông Tám đi coi ba lần, nói được rồi. Theo lịch bơm của giếng chung, phiên đêm là của vườn bà. Chữ L viết bằng bút bi. Bên dưới, ở chỗ chữ "La" nhỏ xíu năm ngoái, năm nay có một chữ khác, chữ tròn và đứng của Xuyến: "X".
Chiều hôm đó, trước khi kéo ống, Xuyến ra nhà máy bơm. Cô mở cái hộp báo cạn. Bóng đèn đỏ nhỏ bằng hạt bắp vẫn nằm trên nắp, dây điện quấn băng keo đen gọn gàng. Cô móc trong túi áo khoác ra một cái còi tròn bằng nhựa, hai sợi dây đồng thò ra như râu con dế. Cái còi đã nằm trong túi quần cô, rồi trong ngăn va li cô, rồi trong ngăn kéo tủ của bà, suốt một năm.
Lãm đứng cạnh cô. Anh làm thợ điện hai năm. Anh chỉ cô sợi nào nối với sợi nào, quấn băng keo ra sao. Anh không làm giùm.
– Chắc chưa em?
– Chắc.
Cô đóng nắp hộp lại. Cô bấm cái nút thử. Cái còi kêu lên, cao, sắc, đều đặn. Tít. Tít. Tít. Tít.
Ông Tám đứng bên kia ranh, nghe tiếng còi, quay lại nhìn.
Xuyến đứng trước cái hộp, nghe. Cô đếm tới mười. Cô không bịt tai. Cô không ngồi xuống. Rồi cô nhả nút. Tiếng còi tắt.
– Giờ em nghe được rồi – cô nói.
Lãm không nói gì. Anh chỉ đưa tay ra, nắm lấy bàn tay cô, cái bàn tay vừa bấm nút, và giữ.
Đêm đó, gần ba giờ sáng, cái còi kêu.
Xuyến tỉnh dậy trên giường tre của bà. Tít. Tít. Tít. Cô nằm im một giây, nghe. Rồi cô ngồi dậy, mang dép, khoác áo, cầm cây đèn pin, đi xuống dốc. Cô không chạy. Cô đi, đều, như đi tua đêm trong một khoa bệnh.
Cô ngắt cầu dao, chỉnh cái van, ngồi xuống bậc cửa nhà máy bơm, đợi nước giếng dâng lên lại. Con Mực bên nhà ông Tám sủa hai tiếng lấy lệ rồi nằm xuống lại. Đêm cuối tháng âm lịch, trời không trăng, sao dày như đêm giao thừa năm ngoái. Cả vườn cà phê tối đen, đất ướt sũng nước, mùi đất đỏ bốc lên ngai ngái.
Mười ngày nữa, hoa nở.
— Hết chương 35 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe