Chương 7: Đèn đỏ
Con cóc ngồi ngay trước cửa thùng ong, to bằng nắm tay, lưng sần sùi, cổ họng phập phồng. Mỗi lần có một con ong bò ra cửa tổ, cái lưỡi nó phóng ra rồi thu vào nhanh tới mức Xuyến không thấy, chỉ thấy con ong biến mất.
– Nó ăn vậy cả đêm – Lãm nói nhỏ. – Một con cóc một đêm ăn mấy chục con ong canh cửa. Đàn yếu là mất đàn.
Anh cúi xuống, chụp con cóc bằng bàn tay đeo găng, nhẹ nhàng, như chụp một trái bơ rụng. Con cóc kêu ộp một tiếng, giãy hai cái rồi nằm im. Anh bỏ nó vào một cái xô nhựa có nắp đậy, trong xô đã có ba con khác.
– Anh làm gì tụi nó?
– Sáng mai thả ra suối, chỗ cuối vườn ông Tám. Xa chút. Mấy bữa nó lại mò về.
Ánh đèn pin đỏ trên tay anh soi xuống cửa tổ. Dưới ánh đỏ, mấy con ong canh cửa đứng thành một hàng, đầu quay ra ngoài, râu rung rung. Chúng không bay lên, không xao động. Như không có ai đứng đó.
Đó là đêm thứ Tư, gần mười một giờ. Ba ngày nay Xuyến ngủ không được. Không phải kiểu mất ngủ ở Sài Gòn, nằm trơ mắt nhìn trần nhà, lướt điện thoại tới ba giờ sáng. Ở đây cô nằm xuống là mệt, nhắm mắt là thiếp đi, rồi một tiếng sau thức dậy, tỉnh như sáo, không ngủ lại được. Đêm nay cô thức dậy lúc mười giờ rưỡi, nằm nghe tiếng dế một lúc, rồi ra hiên. Thấy ánh đèn đỏ lắc lư ở hàng thùng ong. Cô đi xuống.
Ba ngày nay, từ sáng Chủ nhật Oanh tới, cô gần như không nói chuyện với Lãm. Cô vẫn ăn cơm trong cặp lồng anh để, vì không ăn thì phí, nhưng cô không gài giấy lại. Cô đi chợ một mình, đi bộ ba cây số, không nhờ anh chở. Cô ra vườn những lúc anh ở lán, vào nhà những lúc anh ra vườn. Lãm không hỏi tại sao. Anh vẫn để cặp lồng, mỗi ngày một món khác.
Chiều thứ Ba, H'Rin tới. Con bé đi cà nhắc, cái chân phải còn quấn gạc, tay cầm một sợi dây thổ cẩm nhỏ bằng ngón tay, dệt sọc đỏ đen, hai đầu có tua. Nó đứng ở chân hiên, không dám lên.
– Mẹ con dệt. Mẹ con nói cho cô.
Xuyến ngồi xuống bậc hiên cho ngang tầm con bé. Cô kêu nó chìa chân ra, gỡ lớp gạc ngoài coi. Vết khâu khô, mép liền, không sưng, không chảy dịch. Cô quấn lại, dặn nó đừng cho nước vô, đừng gãi, tới ngày thì lên trạm cắt chỉ. H'Rin nghe, gật đầu lia lịa, rồi buộc sợi dây thổ cẩm vào cổ tay trái của cô, ngay chỗ hôm trước con ong đốt. Nó buộc nút thắt chặt quá, cô phải nới ra một chút.
– Cô ở đây luôn hông cô?
– Cô chưa biết.
– Chú Lãm nói cô chưa biết.
Con bé nói xong thì cà nhắc đi về. Xuyến ngồi lại trên bậc hiên, mân mê sợi dây đỏ đen trên cổ tay, tự hỏi anh đã nói với một đứa con nít tám tuổi những gì về cô.
Giờ cô đứng đây, cạnh anh, nhìn con cóc trong xô.
– Ong không thấy ánh đèn này hả anh? – Cô hỏi, chỉ cái đèn pin đỏ.
– Thấy, mà không rõ. Mắt ong nhìn màu khác mắt người. Màu đỏ với nó gần như màu tối. Mình rọi đèn trắng vô ban đêm, nó tưởng trời sáng, nó bay ra, lạc đường, chết. Rọi đèn đỏ thì nó ngủ tiếp.
Anh soi đèn sang thùng kế bên. Không có cóc. Anh đi tiếp. Xuyến đi theo.
Trên trời, trăng thượng tuần đã ngả về tây, sáng một nửa, treo lơ lửng trên ngọn hàng muồng. Ánh trăng đủ để thấy lối đi, đủ để thấy những hàng cà phê nối nhau thành những khối đen. Hoa cà phê đã tàn hết, chỉ còn mùi đất ẩm từ đợt tưới hôm thứ Bảy.
– Ba anh dạy anh nuôi ong hả? – cô hỏi.
– Dạ. Ba tui nuôi từ hồi tui còn chưa sinh ra. Ổng ở Quảng Ngãi, nghèo quá, lên đây làm thuê cho người ta nuôi ong, rồi xin được mấy thùng, rồi nhân lên.
Anh dừng lại trước một thùng, soi đèn vào cửa tổ. Một con ong canh cửa đang vật lộn với một con ong khác, hai con quấn vào nhau, lăn qua lăn lại trên tấm ván cửa tổ.
– Thấy không. Con ong lạ, từ đàn khác bay sang ăn trộm mật. Ong canh cửa nó ngửi mùi, không phải mùi nhà, nó đánh liền. Đánh tới chết.
– Sao nó biết mùi nhà?
– Mỗi đàn một mùi. Mùi của con chúa, mùi của sáp, mùi của mật mà đàn đó ăn. Ba tui nói ong nó nhận nhau bằng mũi, như người mình nhận nhau bằng giọng nói. – Anh ngừng một chút. – Mà ba tui cũng nói, ong lạ mà biết điều, nó đáp xuống cửa tổ, nó đứng im, nó không giành, nó đưa mật cho ong canh cửa, thì có khi ong canh cửa cho nó vô. Ở lâu rồi nó thành ong nhà.
Hai con ong trên cửa tổ đã tách ra. Một con bay vụt lên, mất hút trong bóng tối.
Họ đi hết dãy thùng thứ nhất. Lãm bắt được thêm một con cóc nữa. Rồi anh ngồi xuống cái ghế đẩu ở hiên lán, đặt cái xô cóc xuống chân, tắt đèn pin. Xuyến ngồi xuống bậc lán.
Một lúc lâu không ai nói gì.
– Hồi nhỏ – Xuyến nói, cô không biết vì sao mình nói. – Hè nào tôi cũng lên đây. Từ năm lớp Hai tới năm lớp Chín. Má tôi bán vải ở chợ, hè bận không coi tôi được, gửi lên bà.
Lãm không nói gì. Anh đợi.
– Bà bắt tôi đi lượm cà phê rụng. Cà phê rụng dưới gốc, hồi đó còn đầy, tôi lượm một lon sữa bò được bà cho năm trăm đồng. Tôi để dành, cuối hè mua được một cái hộp bút có nam châm. Về Sài Gòn khoe với tụi bạn, tụi nó không tin tôi tự làm ra tiền.
– Hộp bút gì?
– Hình con mèo. Màu hồng. Hai tầng.
Lãm cười. Tiếng cười ngắn, khẽ, trong bóng tối.
– Bà Tư có kể. Bà nói con nhỏ đó hồi xưa ham tiền, lượm cà phê lượm luôn cục đất đỏ cho nặng lon.
Xuyến bật cười. Cô không nhớ lần cuối mình bật cười là lúc nào.
– Bà nói xấu tôi vậy hả?
– Bà khen đó chớ. Bà nói con nhỏ đó lanh.
Gió đêm thổi qua hàng muồng, lá muồng xào xạc. Ở dưới suối có tiếng ếch nhái. Con Mực ở bên nhà ông Tám sủa mấy tiếng vào khoảng không rồi im.
– Cái cô hôm Chủ nhật – Xuyến hỏi. Cô cố giữ giọng bình thường. – Oanh. Cô ấy là...
– Bạn học. Học chung từ cấp ba. Giờ là mối mua mật.
Anh nói vậy, và không nói thêm. Xuyến đợi. Anh không nói thêm. Cô thấy mình muốn hỏi tiếp, hỏi về chữ "hứa", về câu "mùa cuối". Rồi cô nghĩ: mình lấy tư cách gì mà hỏi. Mình là người tới bán vườn. Anh là người đặt ong. Hai mươi tháng Chạp là ký giấy.
Cô không hỏi.
Mặt trăng đã chạm ngọn hàng muồng. Bóng cây đổ dài trên mặt đất, gần tới chân hai người.
– Ở Sài Gòn – cô nói, và lần này giọng cô thấp hơn – tôi làm điều dưỡng. Hồi sức tích cực. Sáu năm.
Cô không biết tại sao mình nói câu đó. Đó là câu đầu tiên, kể từ lúc lên đây, cô tự nói về mình mà không ai hỏi. Cô nói ra rồi mới thấy nó nặng, như đặt một cái bao cát xuống giữa hai người.
Lãm gật đầu.
– Tui biết.
Xuyến quay sang nhìn anh. Trong bóng tối, cô chỉ thấy đường viền khuôn mặt anh, cái cằm vuông, sống mũi.
– Sao anh biết?
– Bà Tư khoe hoài.
Anh nói câu đó tự nhiên, như nói trời sắp mưa.
– Bà nói cháu bà làm ở cái khoa mà người ta nằm thở máy, cháu bà một ca coi ba người, cháu bà biết đọc mấy cái máy mà bác sĩ còn phải hỏi. Bà nói cháu bà đặt cái ống vô mạch máu một lần là trúng. Bà không biết đó là ống gì, bà kêu là "cái ống", mà bà khoe y như bà tận mắt thấy. Ai tới nhà bà cũng khoe. Ông Tám nghe tới thuộc.
Xuyến đứng dậy.
Cô đứng dậy nhanh quá, đầu choáng một chút. Cô vịn vào cây cột hiên lán.
– Cô Xuyến?
– Tôi đi ngủ.
Cô đi lên dốc. Cô không chạy, nhưng đi nhanh. Lối mòn tối, rễ cây muồng ngoằn ngoèo, cô vấp một cái, chống tay xuống đất đỏ, đứng dậy đi tiếp. Phía sau cô có ánh đèn đỏ bật lên, soi theo lối đi trước chân cô, đủ cho cô thấy rễ cây. Ánh đèn đỏ đi theo cô tới tận chân hiên, rồi tắt.
Cô vào nhà, đóng cửa, ngồi xuống mép giường tre.
Bà khoe. Ai tới nhà bà cũng khoe. Ông Tám, chị Loan, bà bán rau ở chợ, người đàn ông nuôi ong. Bà ngồi trên cái ghế đẩu ở hiên lán, ăn cơm trưa với anh ta, và khoe cháu bà đặt cái ống vô mạch máu một lần là trúng.
Ba năm. Ba mùa hoa. Đứa cháu bà khoe đặt kim một lần là trúng không bắt máy khi bà gọi. Không về khi bà gọi. Đêm bà chết, nó nằm ở nhà, cách bà hơn ba trăm cây số, nhìn cái điện thoại reo sáu lần trên mặt gối.
Sáu lần. Cô nhớ rõ con số. Cô nhớ rõ cái màn hình sáng lên trong bóng tối, mười chữ số lạ, không có tên. Lần thứ nhất cô nhìn, để nó reo tới hết. Lần thứ hai cô úp điện thoại xuống. Lần thứ ba, thứ tư, cô nằm co lại, kéo gối bịt tai. Lần thứ năm, cô đã định cầm lên. Bàn tay cô đã chạm vào nó. Rồi nó tắt. Lần thứ sáu là lúc gần mười hai giờ, cô nằm nhìn nó reo mà không cử động được, như bị ai đè lên ngực. Rồi không reo nữa.
Sáng hôm sau, sáu giờ mười, cậu Ba gọi. Số có tên. Cô bắt máy.
Cô chưa bao giờ biết sáu cuộc gọi đó là của ai. Cô chưa bao giờ dám tìm. Có những thứ người ta không mở ra coi, vì biết mở ra là không đóng lại được.
Bên ngoài, ánh trăng đã khuất sau hàng muồng. Vườn tối hẳn. Xuyến nằm xuống, kéo chăn lên tới cằm, nhìn đỉnh mùng. Cô nghe tiếng ong rì rì rất khẽ từ dãy thùng gần nhất, cái tiếng mà ban ngày lẫn vào gió, chỉ ban đêm mới nghe rõ. Tiếng một đàn ong đang thở, đang quạt cánh cho mật trong tổ khô đi, suốt đêm, không ngừng, để mật để được lâu.
Cô nằm nghe tiếng đó cho tới khi trời sáng.
— Hết chương 7 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe