Chương 2: Hai tỷ chín
– Hai tỷ chín – cậu Ba nói, và giơ ba ngón tay lên, rồi gập lại một ngón cho ra hai, rồi lại giơ ngón thứ ba lên, lần này cong cong, cho ra cái số chín. – Hai tỷ chín, con nghe chưa. Đất cà phê trong này mấy năm trước có ai trả tới hai tỷ đâu.
Cậu Ba Lực đứng giữa sân, áo sơ mi bỏ thùng, bụng tròn căng dưới dây nịt, đôi giày da đã phủ một lớp bụi đỏ. Cậu đi xe hơi vào, một chiếc xe bảy chỗ màu trắng đậu tuốt ngoài đường liên thôn vì lối vào dốc quá. Đi theo cậu là một người đàn ông khoảng năm mươi, tóc chải ngược, áo thun có cổ màu xanh đậm, tay cầm một cái máy đo khoảng cách nhỏ như cái điện thoại. Người đó tự giới thiệu là Quách Thắng, giám đốc công ty Đồi Mây, chuyên làm khu nghỉ dưỡng sinh thái.
– Cô Xuyến cứ gọi anh là anh Thắng – ông nói, chìa tay ra bắt. Bàn tay khô và mát. – Anh nghe anh Lực nói nhiều về em. Điều dưỡng hồi sức, giỏi lắm.
Xuyến bắt tay. Cô không biết cậu Ba đã nói gì về mình, và cô không thích chuyện người lạ biết nghề của mình trước khi mình kịp nói.
Ông Thắng đi một vòng quanh nhà, rồi đi xuống vườn. Ông bấm cái máy đo, chĩa về phía hàng muồng, chĩa về phía con suối cạn, đọc số rồi gật gù. Ông nói cái dốc thoai thoải này mà dựng mấy căn nhà gỗ thì đẹp, nhìn về phía tây hoàng hôn rất ăn ảnh. Ông nói chuyện giữ lại một phần cà phê để khách du lịch vào hái, trải nghiệm. Ông nói rất hay, giọng đều và ấm, như người đã nói những câu này ở nhiều mảnh vườn khác.
Rồi ông dừng lại ở đầu hàng thùng ong.
– Cái này...
– Ong của người ta đặt nhờ – cậu Ba nói nhanh. – Thằng nuôi ong. Bám ở đây mấy năm rồi, hồi má anh còn sống thì bả cho nó đặt, giờ bả mất rồi nó cũng không chịu đi.
Xuyến nhìn cậu. Hôm qua Lãm đã nói rõ hết mùa hoa anh sẽ dọn. Cô chưa kịp nói gì thì Lãm từ phía cuối hàng thùng đi lên. Tấm lưới trên nón anh lật ngược lên vành, áo bạt kéo khóa kín cổ, đôi găng da dài tới khuỷu, tay cầm một cái khung gỗ phủ kín ong. Ong bò trên găng tay anh, trên cổ tay áo, anh không phủi.
– Chào anh – anh nói với ông Thắng. – Chào cậu Ba.
Cậu Ba không chào lại.
Ông Thắng thì lịch sự. Ông hỏi anh nuôi bao nhiêu thùng, một mùa được bao nhiêu mật, bán ở đâu. Lãm trả lời ngắn từng câu. Cuối cùng ông Thắng nói, vẫn bằng cái giọng ấm đó:
– Nếu bên anh với cô Xuyến chốt được, chắc anh phải nhờ em dọn sớm, để bên anh cho người vào đo đạc. Ong thế này anh em kỹ thuật không dám vào.
– Dạ. Cô Xuyến chốt ngày nào thì tui dọn ngày đó. Tui chỉ xin ba đêm.
– Ba đêm?
– Ong phải chở ban đêm, lúc ong thợ về hết. Tám mươi sáu thùng, xe tui một đêm chở được ba chục.
Ông Thắng gật đầu, ra vẻ hiểu. Cậu Ba thì hừ một tiếng trong mũi.
– Thấy chưa. Còn đòi điều kiện.
– Cậu – Xuyến nói. – Ảnh nói hợp lý mà.
Cậu Ba quay sang nhìn cô. Ánh mắt cậu có cái gì đó vừa ngạc nhiên vừa phật ý, như người ta nhìn đứa nhỏ cãi lại ở chỗ đông người. Rồi cậu cười xòa, vỗ vai cô.
– Ờ, ờ, thì hợp lý. Thôi vô nhà uống nước, anh Thắng.
Lãm đi xuống lại hàng thùng. Lúc anh quay lưng, Xuyến thấy trên vai áo bạt có ba bốn con ong đang bò, và anh vẫn không phủi.
Trong nhà, cậu Ba nói chuyện tiền. Cậu nói giá hai tỷ chín là giá trọn, công ty lo hết giấy tờ, thuế phí chia đôi. Cậu nói trước Tết đặt cọc, sau Tết ra công chứng. Cậu nói con ở Sài Gòn, giữ cái vườn này làm gì, cỏ mọc, trộm vô, cà phê để lâu không chăm là chết, mỗi năm mất giá. Cậu nói bà cũng chỉ muốn con có cái vốn mà sống.
Xuyến nghe hết. Cô không cãi, vì phần lớn những gì cậu nói đều đúng. Cô ở Sài Gòn. Cô không biết làm cà phê. Cô đã nghỉ việc ba tháng, tiền tiết kiệm còn đủ trả tiền trọ thêm vài tháng nữa. Cô lên đây để bán.
Ông Thắng đưa cho cô một tấm danh thiếp và một tập giấy kẹp bìa trong, trong đó có bản vẽ phác khu nghỉ dưỡng. Xuyến lật qua. Ở chỗ nhà bà bây giờ, trong bản vẽ là một cái hồ bơi hình hạt đậu.
– Em suy nghĩ kỹ – ông nói. – Anh không gấp. Nhưng anh nói thật, qua Tết thì bên anh phải chọn mảnh khác, vì kế hoạch đầu tư nó có thời hạn.
Họ về lúc gần trưa. Cậu Ba đi sau, đứng lại ở cổng, nói nhỏ với Xuyến:
– Cái thằng nuôi ong đó, con coi chừng. Nó ăn ở đây mấy năm, nó biết hết đường đi nước bước. Nó nói ngọt chứ nó không có hiền đâu.
– Ảnh nói hết mùa hoa ảnh dọn mà cậu.
– Nói thì ai không nói được.
Cậu leo lên xe. Chiếc xe trắng lùi ra đường liên thôn, để lại một đám bụi đỏ bay mãi mới lắng.
Buổi chiều Xuyến đi bộ một vòng quanh vườn. Cô đi theo lối mòn giữa hai hàng cà phê, cúi người dưới những cành trĩu hoa. Hoa rụng xuống tóc cô, xuống vai cô, mỏng như giấy pơ-luya. Gốc nào cũng có một cái bồn đất vun tròn, đất trong bồn còn hơi ẩm, có dấu nước chảy thành rãnh. Cô cúi xuống bốc thử một nắm. Đất đỏ, mịn, dính tay, có mùi tanh tanh như mùi sắt.
Cuối vườn, sát con suối cạn, có một cái nhà máy bơm nhỏ, vách gạch không tô, mái tôn. Bên trong là cái máy bơm điện sơn xanh, một cái tủ điện có cửa kính, mấy cuộn ống nhựa đen to bằng bắp tay. Một con chó vàng nằm ngủ trong bóng mát của nhà máy, nghe tiếng chân cô thì ngẩng đầu lên sủa hai tiếng lấy lệ rồi nằm xuống lại.
– Mực! Im!
Một ông già từ phía vườn bên kia bước qua. Ông thấp, lưng hơi còng, đội cái nón tai bèo đã bạc trắng, miệng ngậm một điếu thuốc rê vấn bằng giấy vở. Ông nhìn Xuyến từ đầu tới chân.
– Con nhỏ cháu bà Tư phải hông?
– Dạ. Ông là...
– Tám. Người ta kêu Tám Rẫy. Tao ở sát vách. – Ông chỉ cái tủ điện. – Giếng này chung. Bà Tư với tao mỗi người một nửa tiền khoan, hai chục năm rồi. Con lên đây làm gì?
– Dạ, con lên coi vườn.
– Coi để bán chớ gì. – Ông nhả khói. – Thằng Ba nó nói khắp xóm rồi.
Xuyến không trả lời. Ông Tám cũng không đợi cô trả lời. Ông quay về vườn ông, vừa đi vừa nói vọng lại:
– Bán thì bán. Chừng nào chưa bán thì nhớ, tối nay phiên tao bơm. Có nghe máy kêu thì đừng có đụng.
Tối đó Xuyến ăn mì gói. Cô nấu bằng cái bếp ga mini của bà, ăn ngay trên bậc hiên, nhìn vườn tối dần. Hoa cà phê ban đêm thơm hơn ban ngày, mùi hương đặc tới mức cô có thể nếm được nó ở cuống họng. Ở cuối vườn, tiếng máy bơm chạy đều đều, ù ù, lẫn với tiếng côn trùng. Phía hàng muồng, cái lán gỗ của Lãm có ánh đèn vàng. Cô không biết anh ở đó. Hôm qua cô tưởng anh ở đâu đó ngoài đường liên thôn.
Cô đi ngủ sớm, mệt rã. Cô ngủ được, lần đầu tiên sau nhiều đêm.
Cô thức dậy vì một tiếng kêu.
Tít. Tít. Tít. Tít.
Không phải tiếng côn trùng. Tiếng điện tử, cao, sắc, cách nhau đều đặn, không nghỉ. Nó vang lên từ cuối vườn, xuyên qua bóng tối, xuyên qua vách ván, xuyên qua cái mùng.
Tít. Tít. Tít. Tít.
Xuyến ngồi bật dậy. Cô không biết mình đang ở đâu. Cô ngửi thấy mùi dầu gió và tưởng là mùi cồn. Cô thấy bóng tối và tưởng là hành lang khoa lúc mất điện. Tiếng kêu vẫn đều đều, không nhanh hơn, không chậm hơn, và cô biết tiếng kêu đó. Cô biết nó trong từng thớ thịt. Đó là tiếng một cái máy đang báo cho người ta biết có một con số đã xuống quá thấp, và không ai làm gì được nữa.
Cô tuột khỏi giường, ngồi bệt xuống nền xi măng lạnh. Cô đưa hai tay bịt tai. Tiếng vẫn lọt qua kẽ tay. Tít. Tít. Tít. Cô nhắm mắt và thấy tấm kính. Phía sau tấm kính là cái giường cấp cứu, những cái lưng áo xanh cúi xuống, một bàn tay nhấn đều đều lên ngực ai đó, và trên màn hình, một đường kẻ màu xanh lá.
Cô không thở được. Cô biết mình đang thở quá nhanh, cô biết đó là cơn hoảng loạn, cô biết chính xác người ta phải làm gì với một bệnh nhân đang tăng thông khí như thế này. Biết hết. Cô vẫn không thở được.
Tiếng kêu tắt.
Đột ngột, như ai cắt một sợi dây. Bóng tối trở lại im lặng, chỉ còn tiếng côn trùng và tiếng gió lùa qua hàng muồng. Có tiếng chân chạy trên lối mòn, rồi tiếng chân dừng lại ngoài hiên.
– Cô Xuyến?
Giọng Lãm. Thấp, không gấp.
– Cái hộp báo cạn ở máy bơm. Nước giếng tụt, nó kêu. Tui ngắt cầu dao rồi. Ông Tám ngủ say, ổng không nghe.
Xuyến không trả lời được. Cô ngồi dưới đất, lưng tựa vào chân giường, ép hai đầu gối vào ngực, đếm hơi thở. Hít vào bốn. Giữ. Thở ra sáu. Hít vào bốn.
Ngoài hiên im một lúc. Rồi có tiếng ai đó ngồi xuống bậc gạch.
Lãm không gõ cửa. Không hỏi cô có sao không. Không nói thêm câu nào. Xuyến nghe anh ngồi đó. Thỉnh thoảng có tiếng sột soạt, như anh đổi tư thế. Có lúc có tiếng con chó Mực từ bên nhà ông Tám sủa vu vơ, rồi im. Hoa cà phê vẫn thơm, thơm tới nhức đầu.
Không biết bao lâu sau, hơi thở cô chậm lại. Cô đứng dậy, chân tê rần, đi ra mở cửa.
Lãm ngồi ở bậc hiên, quay lưng về phía cửa, nhìn ra vườn tối. Anh mặc áo thun, đi dép tổ ong, tay cầm cây đèn pin tắt. Nghe tiếng cửa, anh không quay lại ngay.
– Mấy giờ rồi? – Xuyến hỏi. Giọng cô khàn.
– Hai giờ hơn.
– Anh về ngủ đi.
– Dạ.
Anh đứng dậy, phủi đít quần. Anh đi xuống hai bậc thì dừng, quay lại. Ánh đèn trong nhà hắt ra làm một nửa mặt anh sáng, một nửa tối. Anh nhìn cô, rồi nhìn xuống bàn tay cô đang bám cứng vào khung cửa, mấy khớp ngón trắng bệch.
– Tiếng đó... – anh nói, rồi ngưng, như đang chọn chữ. – Mai tui gỡ cái còi trong hộp ra, gắn cái đèn thôi. Nước tụt thì đèn chớp. Tui với ông Tám coi đèn được.
Anh không hỏi vì sao. Anh đi xuống dốc, đèn pin vẫn tắt, đi trong bóng tối như người đã thuộc từng gốc cây.
Xuyến đứng ở cửa cho tới khi cái lán gỗ phía hàng muồng sáng đèn lên, rồi tắt.
— Hết chương 2 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe