Chương 36: Đứa nào về trước
– Đứng yên. Đừng đập.
H'Rin đứng sững ở cổng vườn, cánh tay phải giơ ra trước mặt, mắt mở to. Trên cổ tay con bé có một con ong đang bò, một chấm vàng nâu rung rung.
Xuyến đi tới, chậm, không vội. Cô ngồi xổm xuống cho ngang tầm con bé.
– Nó không đốt con đâu. Con đứng im là nó đi. Ong không ghét người. Nó ghét người hoảng.
H'Rin đứng im. Con ong bò một vòng quanh cổ tay nó, dừng lại trên cái vòng thổ cẩm đỏ đen giống hệt cái vòng trên cổ tay Xuyến, rồi bay đi.
Con bé thở ra một hơi dài.
– Cô Xuyến nói y chú Lãm.
– Ừ. – Xuyến cười. – Chú Lãm dạy cô.
Sáu giờ sáng thứ Bảy, mười sáu tháng Một. Trời vừa hửng. Ở phía tây, trên ngọn hàng muồng, không có trăng; mảnh trăng thượng tuần đã lặn từ khuya. Trước mặt Xuyến, cả vườn cà phê trắng xóa.
Không phải trắng của sương. Là hoa. Từng chùm từng chùm bám dọc cành, dày tới mức lá xanh chỉ còn lấp ló. Mùi hoa đặc quánh trong không khí lạnh, ngọt mà hăng, giống mùi hoa bưởi pha với mùi nhài, có chút gì gắt gắt như mùi lá chanh vò nát. Năm ngoái, đứng ở chỗ này, cô thấy choáng. Năm nay cô hít vào đầy ngực, như người ta hít mùi cơm chín.
Và tiếng. Cả vườn rì rì. Mấy chục thùng của Y Sơn, cộng hai thùng không bán, nằm dọc hàng muồng và ở hai sào đầu vườn, ong ra vào cửa tổ như đi chợ Tết.
Chín ngày sau đợt tưới, sớm hơn ông Tám nói một ngày, hoa nở. Nở một lần, trắng cả xóm.
Má đã dậy từ trước cô, đứng ở đầu hiên với ly cà phê phin ông Tám rang, nhìn xuống vườn không nói gì. Má lên ba tuần nay, đã thuộc tên từng người trong xóm, đã cãi với ông Tám mười mấy trận về canh, về cá, về chuyện bánh tét Tết này gói nhân gì. Ông Tám đứng cạnh má, nón tai bèo, điếu thuốc rê chưa châm. Hai người nhìn xuống vườn hoa, không ai cãi ai.
Lãm ngồi ở bậc hiên. Áo khoác kín cổ, hộp nhựa trắng trong túi. Đêm qua anh ngủ trong xe bán tải đậu trước cổng, như đêm giao thừa năm ngoái. Anh nói anh canh hoa. Ông Tám nói mầy canh hoa hay canh người, anh không trả lời.
Xuyến có hai việc phải làm sáng nay.
Việc thứ nhất, cô làm ở cuối vườn, sát ranh ông Tám.
Thùng số 7 nằm ở đó, sơn xanh dương đã bạc, con ong mặt cười tróc sơn một cánh. Cạnh nó, cái thùng trắng chia ra hồi tháng Chín. Bốn tháng nay đàn trong thùng trắng đã lớn, con chúa non đã nở, đã đẻ, ong thợ đã ra vào cửa tổ như bất cứ đàn nào. Y Sơn nói đàn này hiền, giống chủ.
Cô ngồi xổm trước cái thùng trắng, cầm một cây bút sơn trắng mua ở chợ thành phố. Trên nắp tôn, cô vẽ một con ong. Cái thân tròn, ba vạch ngang. Hai cái cánh như hai giọt nước. Hai cái râu cong vòng ra. Một khuôn mặt cười.
Nét vẽ vụng. Vụng y hệt con ong trên nắp thùng bên cạnh.
Lãm đứng cách mười bước, nhìn.
– Xấu – anh nói.
– Vẽ xấu thì ong mới nhận ra nhà mình. – Cô nói. Cô không ngẩng lên. – Có người nói vậy.
Cô viết thêm số 8 ở góc nắp. Rồi cô gọi Y Sơn tới, nhờ nó hun khói, nhấc nắp lên một chút, lật ngửa ra cho cô. Mặt trong nắp là tấm ván gỗ thông mới, chưa sẫm màu, chưa có chữ. Cô lấy cây bút lông dầu đen trong túi áo, viết ở góc, chữ đứng và tròn:
"X. – 1/2027."
Y Sơn đậy nắp lại. Ong bò ra cửa tổ, râu rung rung, như ngửi xem có gì vừa thay đổi.
Việc thứ hai, cô làm ở nhà.
Cô mở cánh phải tủ gỗ. Ngăn trên cùng có bốn cái hũ, đứng thành một hàng. Hũ năm hai ba đã gần cạn. Hũ năm hai bốn còn một nửa. Cái hũ nhỏ "Mùa 2026 – để cho anh Lãm" giờ nằm ở Ea Kênh, trên bàn thờ ông Cường, chỗ cái hũ năm chín mươi hai từng đứng. Ở chỗ nó, giờ là cái hũ trống "Mùa 2027 – để cho con Xuyến", chờ.
Và hũ năm hai lăm. Mùa hoa cuối cùng bà còn sống. Còn nguyên. Mật vàng hổ phách đã đục dần từ dưới đáy lên.
Cô định mở nó ra cho cả nhà ăn sáng. Bánh mì nướng than của H'Lim, chấm mật, mỗi người một miếng, ngồi ở hiên nhìn vườn hoa. Cô bưng cái hũ ra khỏi tủ, cầm lên ngang mắt, lấy vạt áo lau lớp bụi mỏng trên thân hũ.
Dưới đáy hũ có một cái gì đó.
Cô nghiêng hũ lên. Dưới đáy, dán sát vào lớp thủy tinh dày, là một miếng băng keo giấy màu vàng nhạt, cùng loại với cái nhãn trên thân. Một năm nay mỗi lần mở tủ, cô nhìn cái hũ này từ trên xuống, qua lớp mật, chỉ thấy một mảng sáng mờ dưới đáy, tưởng là cái tem của hãng làm hũ. Cô chưa bao giờ nhấc nó lên tới ngang mắt mà lật lại coi.
Trên miếng băng keo có chữ. Bút lông dầu đen.
Chữ của bà. Nghiêng và to, chữ "đ" có cái đuôi cong vòng lên như móc câu. Mà không giống chữ trên nhãn. Chữ dưới đáy run. Nét đầu còn vững, nét sau run hơn nét trước, dòng thứ hai trôi xệ xuống như người viết không giữ được tay. Có một chữ bị viết chồng lên hai lần.
"Đứa nào về trước thì ăn trước.
Mật để lâu không hư."
Xuyến đứng im giữa nhà, cái hũ mật trong tay.
Cô nghĩ tới cây bút lông dầu không có nắp, khô cứng, nằm dưới gầm tủ, mà cô đã nhặt lên hồi tháng Chín, bỏ vào hộp kim chỉ. Cô nghĩ tới câu Lãm kể ở bậc lán sáng hôm cô biết sáu cuộc gọi. Bà nằm dưới chân tủ gỗ. Cánh tủ bên phải mở.
Bà đã lấy cái hũ này ra. Đêm đó. Bà đã ngồi xuống đâu đó, cầm cây bút lông dầu, lật ngược cái hũ lên, viết hai dòng chữ dưới đáy, trong khi tay bà bắt đầu run mà bà không biết vì sao. Rồi bà đặt hũ lại vào tủ, đúng chỗ, ngay hàng với hai hũ kia. Rồi bà định đóng cánh tủ.
Rồi bà ngã.
Cây bút lăn vào gầm. Cánh tủ để mở. Ba hũ mật đứng yên trên ngăn trên cùng, không hũ nào vỡ.
– Lãm. – Cô gọi. Giọng cô không to. – Anh vô đây.
Anh vào. Anh thấy cô đứng giữa nhà, cái hũ trên tay, mặt cô. Anh không hỏi. Cô đưa cái hũ cho anh, lật đáy lên.
Anh đọc. Anh đọc rất lâu. Rồi anh nhìn lên cái tủ gỗ, nhìn cánh tủ bên phải đang mở.
– Đêm đó anh vô, cánh tủ mở – anh nói. – Anh lo bế bà. Lúc về anh mới đóng lại. Anh không coi trong tủ có gì.
– Anh không biết.
– Không. – Anh nói. – Anh không biết.
Má đã đứng ở cửa từ lúc nào. Ông Tám đứng sau má. Má đi tới, cầm lấy cái hũ, lật đáy lên coi. Má đọc. Má đưa tay lên bụm miệng, rồi bỏ tay xuống, như hôm ở nhà trong hẻm.
– Chữ má – má nói. – Run quá.
Ông Tám nhìn qua vai má. Ông nhìn hai dòng chữ một lúc lâu, rồi quay đi, đi ra hiên, đứng quay lưng vào nhà. Xuyến thấy vai ông giật một cái.
Đứa nào về trước thì ăn trước.
Xuyến nghĩ tới ba đứa cháu của bà. Một đứa ở Đà Nẵng, năm nay học năm cuối, Tết này sẽ lên. Một đứa không bao giờ về được nữa, chỉ còn một cái thùng sơn xanh dương ở cuối vườn và mấy chữ khắc mặt trong nắp. Và một đứa đã đứng ở cổng vườn này một năm trước, bị ong đốt ở cổ tay, nói "tôi lên để bán vườn".
Bà không biết đứa nào sẽ về. Bà chỉ biết sẽ có một đứa về.
Họ mở hũ năm hai lăm ở hiên, lúc mặt trời vừa lên khỏi hàng muồng. Xuyến múc muỗng đầu tiên, đặt vào cái chén nhỏ, để lên bàn thờ bà, cạnh tấm ảnh bà mặc áo bà ba nâu, miệng mím như nhịn cười. Muỗng thứ hai cô ăn. Rồi má. Rồi ông Tám. Rồi Lãm. Rồi nhà H'Lim, Y Sơn, H'Rin. Bánh mì nướng than chấm mật, mỗi người một miếng, ngồi trên bậc hiên nhìn vườn hoa.
Mật năm hai lăm thơm nhất trong ba hũ. Nhẹ, trong, có mùi hoa rõ tới mức như ngậm một cánh hoa cà phê trong miệng. Đắng rất nhẹ ở cuống lưỡi. Mùa đó bà còn sống. Mùa đó bà quay tay cầm mười vòng là mỏi.
Lãm ngồi cạnh cô ở bậc hiên. Anh nhìn ra dãy thùng ong, cách năm chục bước.
– Ba anh nói một câu – anh nói, nhỏ, chỉ đủ cho cô nghe. – Ong lạ mà biết điều, nó đáp xuống cửa tổ, nó đứng im, nó không giành, nó đưa mật cho ong canh cửa. Có khi ong canh cửa cho nó vô. Ở lâu rồi nó thành ong nhà.
– Em là ong lạ hả?
– Hồi đó. – Anh nhìn cô. – Giờ em là ong canh cửa.
Đêm đó, Xuyến ngủ trên giường tre của bà, một mình, má nằm giường xếp ở gian ngoài. Hoa cà phê ban đêm thơm hơn ban ngày. Mùi hoa lọt qua khe cửa sổ, đặc tới mức cô nếm được nó ở cuống họng.
Mười hai giờ bốn mươi, điện thoại reo.
Không phải tiếng chuông của số có tên. Tiếng chuông của một số lạ. Màn hình sáng lên trên mặt gối, mười chữ số không có tên.
Xuyến mở mắt.
Cô không nằm co lại. Cô không kéo gối bịt tai. Cô không đợi tiếng chuông thứ hai.
Cô bấm nghe ngay hồi chuông đầu.
– Dạ, em nghe.
– Cô Xuyến hả cô? – Giọng một người đàn ông, tiếng Kinh lơ lớ, gấp, đằng sau có tiếng đàn bà rên. – Tui Y Thuôn, ở cuối buôn. Vợ tui đau bụng sinh. Đau dữ lắm. Chị Mai không bắt máy. Chị Loan nói gọi cô.
– Chị đau từ mấy giờ?
– Từ chín giờ. Giờ đau sát lắm cô.
– Anh để chị nằm nghiêng bên trái. Đừng để chị một mình. Em tới liền.
Cô đứng dậy, mặc đồ, lấy cái túi đồ nghề của trạm treo sau cửa. Má ở gian ngoài ngóc đầu lên.
– Ca hả con?
– Dạ. Má ngủ đi.
Cô mở cửa. Ngoài hiên tối, mà không tối hẳn. Mảnh trăng thượng tuần đang chìm xuống sau hàng muồng, vàng đục, khuyết một bên. Cả vườn cà phê dưới dốc trắng mờ như có ai trải một tấm vải mỏng.
Ở cổng, chiếc xe bán tải màu xám bạc đã nổ máy. Đèn pha bật. Lãm ngồi ở ghế lái, cửa xe mở, nhìn lên.
Anh không hỏi cô ai gọi. Anh không hỏi cô đi đâu. Anh thấy đèn trong nhà bà bật lên lúc nửa đêm, và anh đã nổ máy.
Xuyến đi xuống dốc. Cô không chạy. Cô đi đều, như đi tua đêm trong một khoa bệnh.
Cô leo lên ghế phụ, đóng cửa.
– Cuối buôn. Nhà anh Y Thuôn. Vợ ảnh chuyển dạ.
– Ừ.
Chiếc xe chạy ra đường liên thôn. Đèn pha rọi lên hai hàng cà phê hai bên đường, trắng xóa, từng chùm hoa sáng lên trong ánh đèn rồi tối đi phía sau. Cửa kính hạ xuống một nửa. Mùi hoa ùa vào xe.
Ở cuối vườn bà, sau lưng họ, hai cái thùng gỗ một xanh một trắng nằm cạnh nhau trên những viên gạch, trong bóng tối. Ong trong thùng không ngủ. Ong không bao giờ ngủ hẳn. Chúng quạt cánh suốt đêm, rì rì, rì rì, cho mật trong tổ khô đi, để mật để được lâu.
Như ai đó đang thở, rất chậm và rất đều, ở ngay sau lưng mình.
— Hết —

💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe