Chương 3: Lịch bơm của giếng chung
Sáng Chủ nhật, cái hộp báo cạn ở nhà máy bơm đã có một bóng đèn đỏ nhỏ bằng hạt bắp gắn trên nắp, dây điện quấn băng keo đen gọn gàng. Cái còi tròn bằng nhựa nằm trên bậu cửa sổ, hai sợi dây đồng thò ra như râu con dế.
Xuyến đứng nhìn cái còi một lúc. Rồi cô cầm nó lên, bỏ vào túi quần.
Ông Tám đang ngồi xổm cạnh cái máy bơm, tay cầm cờ lê, vặn lại một con ốc ở chỗ nối ống. Con Mực nằm cạnh ông, đuôi đập đập xuống đất.
– Thằng Lãm nó gỡ cái còi hồi sáng sớm – ông nói, không ngẩng lên. – Tao hỏi nó gỡ chi, nó nói kêu inh ỏi ồn ào. Hai chục năm nay có ai chê ồn đâu.
– Dạ, con chê.
Ông Tám ngẩng lên nhìn cô, nheo mắt. Rồi ông khịt mũi, cúi xuống vặn tiếp.
– Thành phố có khác.
Xuyến ngồi xuống bậc cửa nhà máy bơm. Cô đã quyết định từ tối qua, lúc ngồi một mình sau khi Lãm về: chừng nào còn ở đây, cô sẽ tự lo cho cái vườn. Cô không muốn nợ ai. Nhất là không muốn nợ một người lạ biết nghề của cô mà cô chưa nói, và ngồi ngoài cửa nhà cô lúc hai giờ sáng mà không hỏi gì.
– Ông Tám. Ông chỉ con tưới cà phê được không?
Ông Tám đặt cái cờ lê xuống.
– Mầy tính bán mà tưới chi?
– Chưa bán thì vẫn là vườn của bà con.
Câu đó làm ông im một lúc. Ông móc trong túi áo ra một gói thuốc rê, vấn một điếu, liếm mép giấy, quẹt diêm. Khói thuốc rê khét và nồng, khác hẳn mùi thuốc lá điếu.
– Được. Mà tao nói trước, tao chửi đó nghen.
Ông chửi thật.
Cả buổi sáng hôm đó, ông dắt cô đi khắp vườn bà, chỉ từng thứ, và cứ ba câu lại có một câu "con nhỏ này" đi kèm. Ông chỉ cho cô cái bồn đất quanh gốc cà phê, gọi là bồn, phải vun cao mép để nước không tràn ra ngoài. Ông chỉ cành nào là cành thụ, cành nào là cành vượt, phải cắt. Ông bẻ một chùm hoa đã tàn đưa cho cô coi, chỉ những cái nhụy nhỏ xíu màu xanh ở giữa.
– Đây là trái. Bây giờ nó nhỏ vầy, tới tháng Mười nó đỏ, mầy hái. Mà muốn nó đậu thì tưới đợt hai cho đúng. Đợt một thằng Lãm với tao tưới mùng một Tây, giờ hoa nở xong rồi, nhụy đậu rồi. Đất khô thêm chừng mười ngày nữa thì được, để quá nửa tháng là trái non nó rụng. Tưới đợt hai cỡ hai mươi tư, hai mươi lăm Tây. Chậm hơn là hư.
– Dạ. Một đợt tưới bao lâu ạ?
– Vườn bà mầy mười một sào. Máy chạy hai ngày hai đêm. Mà giếng này chung, mầy không chạy một mạch được. Tao bơm ban ngày thì mầy bơm ban đêm, tao bơm ban đêm thì mầy bơm ban ngày. – Ông móc trong túi áo ngực ra một tờ giấy gấp tư, mở ra, đưa cô. – Lịch bơm. Bà Tư với tao xài cái này mười mấy năm.
Đó là một tờ lịch tay vẽ bằng bút bi, kẻ ô theo ngày, mỗi ô có một chữ T hoặc một chữ L. Ô nào là T thì ông Tám bơm, L là bà Lụa bơm. Ở những tháng gần đây, dưới chữ L có ai viết thêm một dấu nhỏ, giống chữ "La".
– Chữ La là ai ông?
– Thằng Lãm. Bà Tư mấy năm nay yếu, phiên bà là nó bơm.
Xuyến gấp tờ giấy lại, cất vào túi, cạnh cái còi nhựa.
Hai ngày sau đó cô làm những việc mà về sau, mỗi khi nghĩ lại, cô vẫn còn thấy nóng mặt. Cô kéo ống tưới thử từ nhà máy bơm ra, không biết phải siết khớp nối, nước xì ra ướt hết người. Cô đi cắt cành vượt, cắt nhầm một cành thụ đang mang mười mấy chùm trái non. Ông Tám đứng bên kia ranh nhìn thấy, chửi một tràng dài mà cô chỉ nghe được chữ "trời đất" và chữ "con nhỏ". Cô xách xô đi tưới mấy cây bơ ở lối vào, dẫm phải một cái tổ kiến lửa, hai bắp chân sưng đỏ.
Chiều thứ Hai, cô ngồi trên bậc hiên, bôi dầu gió lên bắp chân, nhìn thấy trên đầu hiên có một cái cặp lồng nhôm ba tầng, quai buộc một sợi dây chuối khô.
Cô mở ra. Tầng trên là cơm trắng, còn nóng. Tầng giữa là canh bí đỏ nấu tôm khô, rắc hành ngò. Tầng dưới là cá nục kho, kho khô, màu cánh gián, có mấy lát ớt xanh và một nhúm tiêu.
Xuyến đậy nắp lại. Cô xách cái cặp lồng đi xuống hàng muồng, tới cái lán gỗ.
Cô chưa đến đây lần nào. Lán dựng bằng ván thông, mái tôn, có một cái hiên nhỏ lợp lá. Dưới hiên có một cái bàn gỗ, trên bàn có một cái thùng quay mật bằng inox, mấy cái khung gỗ xếp chồng, một cái bếp củi ba ông táo. Lãm đang ngồi trên một cái ghế đẩu thấp, cầm dao nhỏ cạo sáp trên một cái khung gỗ cũ, sáp vàng rơi thành từng sợi xoăn xuống cái mâm nhôm.
– Anh Lãm.
Anh ngẩng lên.
– Cảm ơn anh. Nhưng tôi tự nấu được.
Cô đặt cái cặp lồng lên bàn. Lãm nhìn cái cặp lồng rồi nhìn cô.
– Cô nấu được thì tốt.
Anh nói vậy, gật đầu, rồi cúi xuống cạo sáp tiếp. Anh không nói thêm. Xuyến đứng chờ một chút, không biết mình chờ gì, rồi quay đi.
Tối đó cô lại ăn mì gói.
Trưa thứ Ba, trên đầu hiên lại có cái cặp lồng. Lần này là canh chua cá diêu hồng nấu với thơm, cà chua, đậu bắp, và một dĩa nhỏ bông điên điển xào trứng.
Cô không biết anh kiếm bông điên điển ở đâu trên này. Cô xách xuống trả.
– Anh đừng nấu cho tôi nữa.
– Tui nấu cho tui. Dư chút thôi.
– Anh nấu dư cho người khác đi.
Lãm bỏ cây dao cạo xuống, phủi sáp dính trên tay.
– Bà Tư mấy năm nay ăn cơm tui nấu – anh nói, giọng bình thường. – Tui quen nấu cho hai người. Bà mất rồi tui vẫn còn nấu dư, ăn không hết đổ cho con Mực. Cô không ăn thì con Mực ăn. Cô đừng ngại.
Câu đó làm Xuyến đứng im. Cô nhìn cái bếp củi, nhìn cái nồi nhôm đen bóng khói treo trên móc. Cô hình dung bà, tóc búi, ngồi trên chính cái ghế đẩu thấp này, ăn cơm với người đàn ông này, mỗi trưa, mấy năm liền. Những năm cô không về.
– Vậy anh cho con Mực ăn – cô nói, và đi về.
Tối thứ Ba, cậu Ba gọi.
Cậu hỏi cô đã suy nghĩ tới đâu. Cô nói cô cần thêm thời gian. Cậu nói được, được, nhưng đừng lâu quá, anh Thắng người ta làm ăn lớn, người ta không đợi. Rồi cậu hạ giọng.
– Mà cậu nói con nghe cái này. Con có biết thằng Lãm nó từng hỏi mua vườn bà không?
Xuyến im.
– Nó hỏi mấy lần. Bà không bán. Giờ bà mất rồi, con lên, con coi, nó tưới miễn phí, nó nấu cơm, nó tử tế đủ đường. Con nghĩ coi, nó tử tế với ai, tử tế để làm gì. Cậu sống năm mươi tám năm rồi, cậu thấy chưa có ai tử tế không công.
– Dạ.
– Con nghe cậu. Con gái một mình trên đó, coi chừng.
Cậu cúp máy. Xuyến ngồi trên giường tre, cầm cái điện thoại, nhìn ra cửa sổ. Phía hàng muồng, cái lán vẫn còn sáng đèn vàng. Cô nghĩ về cái tờ giấy thỏa thuận viết tay, về chữ "La" nhỏ xíu dưới chữ L trong lịch bơm, về hai ngày hai đêm tiền điện đầu năm. Cô nghĩ về câu "tui tưới là tưới cho ong tui". Cô nghĩ về cách anh ngồi ngoài hiên đêm hôm trước, không hỏi một câu.
Cô không biết nên tin cái nào.
Thứ Tư, cô không thấy cái cặp lồng trên đầu hiên lúc trưa. Cô ăn bánh mì với sữa đặc, không thấy đói. Buổi chiều cô đi bộ ra chợ xã, cách ba cây số, mua một ký thịt ba chỉ, mấy trái cà chua, một bó rau muống. Bà bán rau người Thanh Hóa, nói giọng nặng, hỏi cô có phải cháu bà Tư không, rồi bớt cho cô hai nghìn.
– Bà Tư mua rau của tui mười mấy năm – bà nói, vừa nhặt mấy cọng rau muống úa ra khỏi bó. – Sáng thứ Bảy nào cũng ra. Mấy năm sau bả đi không nổi, thằng nuôi ong chở ra bằng xe máy, bả ngồi sau ôm cái giỏ. Bả mua hai bó rau, một bó bả ăn, một bó bả nói cho con Mực, mà chó ai đi ăn rau muống. – Bà cười, để lộ mấy cái răng vàng. – Bả nói xạo đó, bả mua cho thằng đó.
Xuyến cầm bó rau, không biết trả lời sao, chỉ cảm ơn rồi đi. Cả quãng đường ba cây số về, cô cứ nghĩ tới cái hình ảnh đó: bà ngồi sau xe máy, ôm cái giỏ nhựa, gió thổi bay mấy sợi tóc bạc ra khỏi búi. Về tới nhà, mồ hôi ướt lưng, cô nấu một nồi thịt kho trứng mà thiếu trứng vì quên mua, nêm mặn quá, ăn được ba miếng.
Gần nửa đêm cô đói tỉnh dậy.
Cô ra hiên để rót nước. Trên đầu hiên, chỗ chậu lan, có cái cặp lồng.
Nó đặt đó từ lúc nào cô không biết. Cô sờ vào, nhôm lạnh ngắt. Cô mở ra, không cần đèn, chỉ nhờ ánh sáng hắt từ trong nhà. Cơm. Canh bí đỏ nấu tôm khô. Cá nục kho.
Giống hệt món đầu tiên.
Xuyến ngồi xuống bậc hiên, đặt cái cặp lồng lên đùi, và ăn. Cơm nguội đã se mặt, hơi cứng. Canh nguội, mỡ hành đông thành những đốm nhỏ trên mặt. Cá nục kho thì lạnh mới ngon, thịt cá săn, nước kho quánh lại, mặn vừa, có vị ngọt của đường thắng và vị cay của tiêu.
Cô ăn hết. Cô ăn chậm, từng miếng, như người ăn sau một ca trực mười hai tiếng, và chỉ khi gắp miếng cá cuối cùng cô mới nhận ra mình chưa ăn một bữa nào tử tế từ hồi tháng Chín.
Ngoài vườn, tiếng ong đã im, chỉ còn tiếng dế. Phía hàng muồng, cái lán tối đen.
Sáng thứ Năm, cô rửa sạch cái cặp lồng, lau khô, buộc lại sợi dây chuối, mang xuống lán. Lãm không có ở đó. Cô đặt nó lên bàn, cạnh cái thùng quay mật. Cô đứng một chút. Rồi cô lấy cây bút bi trong túi, xé một góc tờ lịch bơm cũ, viết mấy chữ, gài dưới quai cặp lồng.
"Con Mực không ăn cá nục kho. Tôi ăn."
Cô viết xong, đọc lại, thấy mặt mình nóng lên. Cô định rút tờ giấy lại. Phía con suối cạn có tiếng xe máy đang chạy vào. Cô bỏ đi nhanh, gần như chạy, lên tới hiên mới dám quay lại nhìn.
— Hết chương 3 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe