Chương 7: Tiệm thuốc họ Nghiêm
Tấm biển gỗ trên cửa tiệm thuốc họ Nghiêm đã bong sơn, chữ "Nghiêm" còn rõ, chữ "thị" chỉ còn một nửa, và cái cối giã thuốc vẽ bên cạnh thì đã bị mưa xóa thành một vệt nâu.
Ngọc Đài đứng trước cửa tiệm của nhà mình mà như đứng trước cửa nhà người lạ. Cô ta đã thay áo đỏ đan đường bằng một bộ áo vải xanh thường, tóc búi thấp. Nhen đứng sau lưng, gùi không trên vai. Sáng hai mươi ba, phố thuốc trấn Khói chưa đông, mấy tiệm bên cạnh đang mở cửa, khiêng mẹt ra phơi.
– Vào đi. – Ngọc Đài nói, rồi tự mình bước vào trước.
Trong tiệm tối và hẹp. Hai bên tường là hai dãy tủ thuốc trăm ngăn, mỗi ngăn dán một mảnh giấy đề tên vị. Nhen để ý: gần nửa số ngăn đã rỗng, có ngăn để mở toang, đáy ngăn chỉ còn bụi. Mùi thuốc trong tiệm không nồng như những tiệm khác, mà nhạt, cũ, như mùi một cái tủ lâu không ai mở.
Sau quầy có một ông già đang ngồi giã thuốc, lưng gù, hai bàn tay nổi gân. Ông ngẩng lên. Thấy Ngọc Đài, ông bỏ cái chày xuống, đứng bật dậy, suýt làm đổ cái cối.
– Con! Đài! Sao con về mà không nhắn trước?
– Cha ngồi xuống đi. – Ngọc Đài nói, giọng mềm hẳn đi, khác hẳn cái giọng sắc như dao ở trên núi.
Ông Nghiêm Hữu Tài sáu mươi hai tuổi, Luyện Khí tầng ba, cả đời bán thuốc ở trấn Khói. Ông rót nước mời Nhen, hỏi Nhen là ai, nghe nói là đan thủ thứ ba của Vân Lô thì ông xuýt xoa mãi. Ông kể con gái ông hồi nhỏ ngồi chỗ này đếm hạt sen, lên năm tuổi đã biết phân biệt mười loại rễ. Ông nói tới đâu Ngọc Đài nhìn xuống chén nước tới đó.
– Mà con nghe gì chưa? – Ông hạ giọng, mắt sáng lên. – Thiên Thăng Các chọn chín người. Cả trấn đồn con chắc có tên. Một nghìn linh thạch. Một nghìn! Trả hết nợ còn dư, mở lại cái tiệm cho đàng hoàng, con không phải lo nữa.
– Cha. – Ngọc Đài nói. – Con về hỏi một chuyện.
Cô ta lấy mảnh giấy gói thuốc ra đặt lên quầy. Ông Tài nhìn con dấu, gật đầu.
– Giấy nhà mình. Có gì đâu con. Ai mua thuốc cũng gói giấy này.
– Trong đó có mấy hạt bột đỏ. Rễ Tỏa Mạch tán nhỏ trộn với thứ khác. Tiệm mình có bán rễ Tỏa Mạch không?
Ông Tài nhíu mày.
– Có. Mà ít lắm. Thứ đó độc, ai mua thì mình phải hỏi. Mấy ông đan sư mua về làm thuốc an thần cho người tẩu hỏa, một lần nửa chỉ, một chỉ. – Ông nghĩ một lúc. – Năm nay chỉ có một người mua nhiều. Hồi tháng Giêng, trước Tết Nguyên Tiêu mấy ngày. Một cậu trẻ, trùm khăn kín đầu, đi một mình lúc chạng vạng. Mua ba lạng. Ba lạng! Cha hỏi mua làm gì, cậu ta nói thầy sai đi mua. Trả bằng thẻ đồng nội môn của Vân Lô, cha tưởng đệ tử đan đường nên bán.
– Cậu ta trông thế nào?
– Cao, gầy. Giọng như con nhà khá giả. – Ông Tài lắc đầu. – Trùm khăn kín quá cha không thấy mặt.
Ngọc Đài im lặng một lúc lâu. Nhen nhìn cô ta, rồi nhìn quanh tiệm. Trên vách sau quầy có treo một tờ giấy đỏ, chữ viết tay, là giấy khất nợ của một nhà buôn dược liệu dưới xuôi. Con số cuối cùng trên tờ giấy là sáu trăm hạ phẩm linh thạch. Ngọc Đài thấy Nhen nhìn, nhưng không nói gì.
Hai người ra khỏi tiệm. Ông Tài đứng ở cửa vẫy theo, dặn con gái giữ sức khỏe, đợi đọc tên xong nhớ nhắn về.
Đi được nửa con phố, Ngọc Đài mới mở miệng.
– Nợ là từ năm năm trước. – Cô ta nói, không quay sang. – Một chuyến hàng thuốc bị đắm ở sông Mân. Cha ta mua chịu. Ta gửi lương về hằng tháng, trả được lãi, không trả được gốc.
– Dạ.
– Ngươi đừng thương hại ta.
– Dạ không. – Nhen nói. – Nhà em cũng mua than chịu.
Ngọc Đài bật ra một tiếng gì đó, nửa cười nửa thở.
Kẽm chờ họ ở lò rèn ông Bảy Đe cuối chợ, đúng như thư Nhen nhờ gửi qua núi hôm qua. Nó đang ngồi kéo bễ giúp ông Bảy, mặt đỏ bừng, thấy Nhen thì vẫy rối rít, thấy Ngọc Đài thì đứng dậy khom lưng chào, cung kính tới mức buồn cười.
– Nghiêm sư tỷ. Nghe danh đã lâu.
Ngọc Đài chỉ gật đầu.
Nhen kể cho Kẽm nghe về mảnh thuốc giả. Cô tả từng chi tiết, những rãnh nông, sắc cạnh, đều nhau, nằm trên mặt vỏ. Rồi cô lấy que củi vạch lên nền đất cái mặt cắt của một rãnh, như cô thấy qua kính: hai bên vách thẳng, đáy nhọn, như chữ V.
Kẽm nhìn hình vẽ, gãi cằm.
– Đáy nhọn hả?
– Ừ. Không tròn.
– Vậy thì khuôn không phải gỗ. – Nó nói ngay. – Khuôn gỗ khắc bằng dao, rãnh ra đáy tròn, vì gỗ có thớ, dao đi theo thớ. Đáy nhọn mà vách thẳng thì phải là kim loại, khắc bằng mũi đục tam giác. Mà muốn khắc được chín vòng nhỏ cỡ đó trên một cái khuôn bằng hạt đậu thì kim loại phải mềm, đồng pha thiếc, pha ba phần thiếc trở lên. Cha tui làm khuôn bánh in bằng thứ đó.
– Trấn Khói ai làm khuôn đồng pha thiếc?
Kẽm quay sang ông Bảy Đe. Ông thợ rèn già lau mồ hôi bằng cái khăn vắt vai.
– Lão Lìu. – Ông Bảy nói. – Hẻm Thiếc, nhà cuối, sát bờ suối. Làm khuôn bánh, khuôn đan, khuôn ấn, cái gì nhỏ nhỏ là lão làm. Nghiện trầu, khó tính.
Hẻm Thiếc là một con hẻm đất chạy dọc bờ suối sau chợ, hai bên là những xưởng thợ nhỏ, xưởng nào cũng mở toang cửa, tiếng búa con gõ lách cách. Nhà ông Lìu nằm cuối hẻm, mái tranh, vách ván, có cái lò nung nhỏ xíu bằng đất sét đặt dưới mái hiên. Ông Hà Văn Lìu sáu mươi sáu tuổi, người phàm, răng đen nhánh vì trầu, ngồi xổm trên cái phản tre, tay cầm cái kính lúp bằng thủy tinh đục, đang khắc hoa lên một cái khuôn bánh trung thu.
Ông không ngẩng lên khi ba người đứng trước cửa.
– Khuôn bánh thì mười đồng, khuôn ấn thì hai mươi, khuôn đan thì ba chục, đặt trước nửa tiền. – Ông nói.
– Dạ, tụi con không đặt khuôn. – Nhen nói. – Tụi con hỏi cái khuôn đan chín vòng.
Mũi đục trong tay ông dừng lại.
Ông ngẩng lên, nhìn từng người một. Mắt ông nhỏ và đục, nhưng nhìn rất lâu. Rồi ông nhổ bã trầu vào cái ống bương bên cạnh phản.
– Hôm nay là ngày gì mà ai cũng hỏi cái khuôn đó. – Ông nói.
– Ai hỏi nữa ạ?
– Hôm qua. Một người áo trắng. Nói giọng nhẹ nhẹ như con gái. Hỏi y như cô. – Ông chép miệng. – Lão nói lão không nhớ.
– Mà ông nhớ không?
Ông Lìu nhìn Nhen thêm một lúc. Có lẽ vì cô là đứa duy nhất trong ba người ăn mặc như dân thợ, ông thở dài.
– Nhớ. Mười tháng Hai. Ban đêm, lão sắp đi ngủ. Một cậu trẻ, trùm khăn, gầy. Đưa lão một hình vẽ, chín vòng đều nhau, đòi làm gấp, mai lấy. Trả hai hạ phẩm linh thạch. Lão làm ba chục năm chưa ai trả lão hai hạ phẩm cho một cái khuôn. Lão thức trắng làm. Sáng ra cậu ta tới lấy. – Ông ngừng, gõ gõ mũi đục lên phản. – Cậu ta cầm khuôn lên coi thì lão thấy cái tay. Tay trái. Lòng bàn tay có một cái sẹo bỏng xoáy tròn như vỏ ốc. Cái sẹo đó lạ nên lão nhớ.
Nhen nghe Ngọc Đài hít vào một hơi rất khẽ bên cạnh mình.
– Sẹo xoáy như vỏ ốc. – Kẽm nhắc lại. – Sẹo gì kỳ vậy?
Không ai trả lời nó. Nhen quay sang Ngọc Đài. Mặt Ngọc Đài không đổi, nhưng cổ họng cô ta động đậy như đang nuốt một cái gì khó nuốt.
– Ông còn giữ cái khuôn mẫu không? – Nhen hỏi.
– Còn. Lão làm cái gì cũng giữ một cái mẫu. – Ông Lìu chỉ vào cái tủ gỗ nhỏ trong góc. – Nhưng không đưa. Đưa cho mấy người, mai cậu kia tới hỏi thì lão biết ăn nói sao.
Họ nài cả buổi, ông vẫn lắc đầu. Cuối cùng Kẽm phải hứa mai sẽ quay lại kéo bễ không công cho ông một buổi, ông mới gật đầu cho xem, không cho cầm đi. Nhưng lúc đó trời đã chạng vạng, trong nhà tối om, mắt ông không nhìn được, ông bảo mai đến sớm.
Tối đó Nhen với Ngọc Đài ngủ lại ở gác lửng nhà họ Nghiêm. Kẽm ngủ ở lò rèn ông Bảy Đe.
Hai người nằm trong bóng tối, không ai ngủ. Qua khe ván gác, nghe được tiếng ông Tài ho ở dưới nhà.
– Sư tỷ biết là ai rồi. – Nhen nói, không hỏi.
Ngọc Đài im rất lâu.
– Năm nó mười hai tuổi. – Cô ta nói, giọng thật nhỏ. – Lần đầu nó thử gọi linh hỏa. Lửa phản lại, cuộn vào lòng bàn tay trái. Ta đứng cạnh, ta là người dập lửa cho nó. Sẹo xoáy tròn, ai bị phản phệ hỏa linh căn mà sống thì đều có. Cả Vân Lô chỉ có hai người có sẹo đó. Nó và ta. – Cô ta lật bàn tay trái lên trong bóng tối. Nhen không nhìn thấy, nhưng hiểu. – Mà ta biết ta không làm.
– Sao Tiêu sư huynh tự hại mình?
– Ta không biết.
Họ nằm im. Ngoài kia trấn Khói đã ngủ, chỉ còn tiếng chó sủa xa xa.
Gần nửa đêm, có tiếng người la.
Nhen ngồi bật dậy trước. Qua ô cửa sổ gác lửng, cô thấy phía sau chợ, chỗ bờ suối, có một quầng sáng. Không đỏ. Trắng.
– Cháy! Cháy Hẻm Thiếc!
Cô chạy. Ngọc Đài chạy theo. Đường tối, trăng hai mươi ba vừa nhô lên khỏi rặng đồi phía đông, nửa vầng, mờ đục. Hẻm Thiếc đã đông người cầm thùng, cầm gáo. Ở cuối hẻm, ngôi nhà mái tranh của ông Lìu đang cháy.
Nhưng lửa không giống lửa cháy nhà.
Lửa không bốc lên cao. Nó ôm sát lấy ngôi nhà, sát tới mức như một lớp áo, trắng lóa, không khói. Người ta tạt nước vào thì nước bốc hơi ngay khi còn cách lửa một sải tay, xèo một tiếng rồi mất. Kẽm ở đó, cởi trần, cầm một cái thùng gỗ, mặt hoảng loạn.
– Ông Lìu còn trong đó! Không ai vô được!
Nhen không nghĩ. Cô kéo mảnh lưu ly lên mắt.
Qua lớp kính màu khói, lửa hết chói. Cô thấy lõi của nó: trắng tinh như sữa, viền ngoài xanh nhạt như mặt nước đóng băng mỏng. Lửa than không có màu đó. Lửa củi không có màu đó. Địa hỏa ở Thung Ba Lửa cũng không. Cô chưa bao giờ thấy lửa nào như thế.
Cô thả kính xuống, chạy tới bờ suối, nhảy ùm xuống nước. Nước suối tháng Hai lạnh cắt da. Cô ngâm người ngập tới cổ, để cho thủy linh lực trong người hút lấy cái lạnh, đầy lên, đầy lên, như hồi ở Vách Tro cô để nó hút lấy hơi ấm. Rồi cô leo lên, chạy thẳng vào cửa nhà.
Hơi nóng đập vào người cô như một bức tường. Nước trên áo cô bốc hơi trắng xóa. Cô không đẩy cái nóng ra. Cô để nó chạm vào nước của mình, để nước chở nó đi, chở ra sau lưng, chở xuống chân, chở xuống đất. Không nhiều. Không lâu. Nhưng đủ.
Ông Lìu nằm gục trên cái phản tre, cạnh cái tủ gỗ nhỏ. Cái tủ đã cháy thành than, cửa tủ mở toang, bên trong trống trơn. Nhen kéo ông lên lưng. Ông nhẹ như một bó củi khô.
Cô lao ra ngoài. Ngọc Đài và Kẽm đỡ lấy ông. Ông ho sặc sụa, mắt nhắm, môi đen nhánh vì trầu và khói. Nhen quỵ xuống đất, toàn thân bốc hơi như một cái nồi vừa nhấc khỏi bếp.
Sau lưng họ, ngôi nhà mái tranh sập xuống. Lửa trắng tắt đi ngay sau đó, tắt gọn, như có ai thổi một ngọn đèn. Không còn một tàn than đỏ. Chỉ còn một vòng tro trắng mịn trên mặt đất.
Ngọc Đài đứng nhìn vòng tro đó. Ánh trăng nửa vầng hắt lên mặt cô ta, trắng bệch.
– Ta biết lửa này. – Cô ta nói. – Ta thấy nó một lần, năm ta mười tuổi, ở lễ Đăng Vân trên đỉnh Vọng Thiên. Ngọn lửa người ta đốt dưới chân Thang Mây.
— Hết chương 7 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe