Chương 25: Đệ tử thứ nhất
Ở Vọng Thiên, Lò Nghiêng nghiêng về phía tây nam.
Nhen đứng ở mép cái sân đá nhỏ sau dãy nhà trắng, nhìn nó, và cô thấy ngực mình thắt lại như bị dây gai siết. Cái lò đồng ba chân đen bóng, cao ngang ngực cô, nắp khép kín, đứng giữa sân trên một cái bệ đá trắng. Ba cái chân của nó bị chèn ba cái nêm đồng, có người đã cố dựng nó cho thẳng. Mà nó vẫn nghiêng. Không phải về tây bắc như ba năm cô đứng lò ở Am. Về tây nam.
Từ Vọng Thiên nhìn xuống, Thung Ba Lửa nằm ở phía tây nam.
Cô không cần sợi chỉ gai hay cái la bàn nữa. Cái lò không chỉ một hướng. Nó chỉ một chỗ.
– Ta dựng nó ba lần. – Mục Trường Thanh nói sau lưng cô. – Lần nào sáng ra cũng nghiêng lại. Bà ấy dựng nó ba nghìn năm. Ta biết mà ta vẫn dựng.
– Ông lấy nó làm gì? – Nhen hỏi, không quay lại.
– Nó là một mảnh của cái lò lớn. – Ông nói. – Đốm lửa bắn ra thì có mảnh lò bắn theo. Lô Đồng nói với Chủ Lô qua nó. Lúc nắp mở, ai đặt tay lên nó thì người đó trả lời được. – Ông dừng một chút. – Bà ấy nhắn ta một câu qua Kiều Lẫm. Bà chưa chết. Ý bà ấy là, còn bà ấy thì Chủ Lô hỏi bà ấy, không hỏi ta.
Nhen nhìn bàn tay trắng như sáp của Kiều Lẫm trong trí nhớ, đặt lên nắp lò hôm ở Am, và bốn người áo trắng mới nhấc nổi nó lên.
Sáng mùng mười tháng Mười, Nhen đi lên Thiên Thăng Các bằng cổng chính, như Kiều Lẫm đã mời. Người gác cổng không hỏi tên. Một đệ tử áo trắng dẫn cô qua ba cái sân, qua những hành lang lát đá trắng mát lạnh, tới đây. Cô đã nghĩ sẽ gặp ông trong một đại điện cao như Đại Điện Hồi Hỏa, ông ngồi trên ghế đá, hai bên là người áo trắng. Nhưng ông đứng một mình trong cái sân nhỏ này, áo trắng trơn, tay cầm cây gậy trúc, như một ông già ra vườn xem cây.
– Con hỏi bà ấy rồi. – Ông nói.
– Dạ.
– Bà ấy nói gì?
– Sư phụ con nói ông nói đúng một nửa.
Mục Trường Thanh cười. Cái cười của ông không có gì độc địa, chỉ mỏi.
– Bà ấy vẫn nói câu đó. – Ông nói. – Một nghìn năm trước bà ấy cũng nói với ta y như vậy.
– Con muốn gặp sư phụ con.
– Bà ấy ở Tĩnh Thất phía sau. – Ông nói. – Có người hầu, có nước giếng, có cơm. Không ai làm gì bà ấy. Không ai làm gì được bà ấy. – Ông nhìn cô. – Bà ấy nói không gặp ai. Kể cả ta.
Ông ngồi xuống bậc đá dưới chân bệ lò, vỗ vỗ cái chỗ bên cạnh mình. Nhen không ngồi. Cô đứng. Ông không nài.
– Ta sinh năm hai nghìn bốn trăm năm mươi chín. – Ông nói, như mở đầu một bài học. – Ở một làng ven rừng phía bắc sông Mân. Năm ta mười một tuổi, mùa khô, rừng cháy. Cả làng cháy. Ta nằm dưới một cái giếng cạn ba ngày. Ngày thứ tư có một bà già nhỏ thó cúi xuống miệng giếng, thả xuống một sợi dây. Bà ấy không hỏi tên ta. Bà ấy hỏi ta có biết vì sao ta còn sống không. Ta nói không. Bà ấy nói vì đáy giếng có nước.
Gió thổi qua sân. Lò Nghiêng nằm im, nghiêng về phía tây nam.
– Ta theo bà ấy năm mươi năm. – Ông nói. – Học giữ lửa. Học hạ lửa. Học nhìn lửa. Ta có hỏa linh căn, tốt hơn con nhiều. Ta luyện được bảy vòng năm ba mươi tuổi. Bà ấy không khen. Bà ấy chỉ nói ta đốt mạnh tay quá. – Ông nhìn bàn tay mình. – Năm ta năm mươi tuổi bà ấy kể cho ta nghe. Bà ấy là gì. Bà ấy đã làm gì. Hoàn Châu là gì. Cũng như bà ấy vừa kể với con.
– Rồi ông bỏ đi.
– Mười năm sau. – Ông nói. – Mười năm ta cãi nhau với bà ấy. Bà ấy nói Chủ Lô sẽ thu đan, không cứu được, chỉ còn cách cắt sợi nối cho viên đan rơi ra. Ta nói bà ấy không biết. Bà ấy là đốm lửa, bà ấy biết lửa, bà ấy không biết người luyện. Người luyện đan nào cũng tiếc một mẻ đan tốt. Ta là người luyện đan. Ta biết. Mẻ nào ra chín vòng, ta không nỡ đốt, ta không nỡ nuốt, ta để nó trong hộp mà ngắm. – Ông lắc đầu. – Ta nghĩ: chỉ cần viên đan này tốt tới mức nó không nỡ.
– Nên ông dâng chín người.
– Không phải ngay. – Ông nói. – Ta bỏ đi năm hai nghìn năm trăm hai mươi. Ta tự mài một miếng kính khói, tự leo lên mấy bậc đầu của Thang Mây, tự nhìn cái nắp. Ta khóc ở đó, như ta nói với con. Rồi ta dựng nhà dưới chân Thang Mây. Trước ta đã có người tự leo thang, hai mươi bốn người, người ta gọi là Đăng Vân, người ta tưởng là lên trời. Ta không bày ra chuyện đó. Ta chỉ dựng nhà dưới chân cái thang, để coi.
– Coi gì?
– Coi nó. – Ông chỉ gậy trúc lên trời. – Sau mỗi lần có người Đăng Vân, ta đếm Ngày Lửa Hạ kế tiếp. Mặt trời mờ bao nhiêu, mờ bao lâu, lúa chết bao nhiêu. Ta đếm bốn trăm năm. Lần nào có người lên, sáu mươi năm sau Lửa Hạ nhẹ đi một chút. Lần nào không có ai lên, Lửa Hạ nặng như cũ. – Ông nhìn cô. – Con là đứa đứng lò. Con hiểu không? Nó nhận. Nó nhận thì nó nhẹ tay.
Nhen nghĩ một lúc lâu. Cô nghĩ tới lò ủ nhà cô ở Bến Cát Trắng, chín ngày chín đêm. Mỗi sáng cha cô bớt một cục than, hé thêm cửa gió một sợi chỉ. Bậc đầu hạ nhiều, bậc sau hạ ít hơn.
– Hay là nó đang ủ. – Cô nói.
Mục Trường Thanh không đáp.
– Lò ủ thì bậc sau bao giờ cũng nhẹ hơn bậc trước. – Nhen nói. – Không phải vì ai dâng. Vì càng gần lúc mở lò thì càng phải hạ nhẹ tay. Sư phụ con nói nó luyện hai lửa. Lửa đầu đốt. Lửa sau ủ. Hết lửa sau thì thu. Bốn trăm năm ông đếm, là bốn trăm năm nó ủ.
Ông Các chủ ngồi im. Bàn tay ông đặt trên cây gậy trúc khẽ siết lại, rồi buông ra.
– Con nói giống bà ấy. – Ông nói. – Giống tới mức ta nghe mà đau tai.
Rồi ông kể chuyện đệ tử thứ tư.
Ông kể chậm hơn, giọng ông thấp hơn, như người ta kể chuyện một người thân đã chết vì bệnh mà mình không chữa được.
– Ninh Viễn. – Ông nói. – Đứa thứ tư. Bà ấy nhận nó năm hai nghìn tám trăm mấy, lúc đó ta đã ở trên này ba trăm năm. Hỏa linh căn, còn mạnh hơn ta. Nóng tính. Bà ấy kể cho nó nghe như kể cho ta. Kể cả chỗ đan dính đáy lò. Nó nghe xong, nó không chờ. Nó nói chờ ba nghìn sáu trăm năm thì chừng nào. Nó xuống Thung Ba Lửa, hồi đó chỗ đó chỉ có hai miệng lửa, nó đứng đúng chỗ rốn, dồn hết linh hỏa xuống, muốn đốt đứt cái sợi nối bằng sức người.
Ông dừng lại.
– Đất nứt. – Ông nói. – Bảy ngày. Cái khe số Ba con đứng lò hôm Đan Thí là cái vết nó để lại. Nước sông Mân dâng lên, rồi đất dưới xuôi sụt xuống. Ta xuống đó. Ta đi dọc sông Mân ba tháng. Ta đếm. Ba vạn người. – Ông nhìn lên Lò Nghiêng. – Năm sau Ninh Viễn leo Thang Mây. Không ai đuổi nó. Nó tự leo. Đèn nó tắt sau chín ngày.
Nhen thấy lạnh, mặc dù nắng trên Vọng Thiên vẫn vàng.
– Bà ấy không dạy nó làm vậy. – Cô nói.
– Không. – Ông nói. – Bà ấy dạy nó chỗ rốn. Bà ấy dạy nó cắt. Bà ấy chỉ không dạy nó chờ. – Ông chống gậy đứng dậy. – Con hiểu vì sao ta không cắt chưa? Viên đan này chạm vào lò ở một chỗ. Đụng mạnh tay vào chỗ đó thì đất nứt. Đụng đúng lúc nắp mở, khi cả cái lò đang rung, thì đất nứt bao nhiêu? Ba vạn? Ba trăm vạn? Hay cả Hoàn Châu?
Ông đi một vòng quanh cái bệ đá, chậm, tay đặt lên thân Lò Nghiêng như vuốt lưng một con trâu già.
– Sư phụ con đưa bảy người lên Thang Mây. – Ông nói. – Ta đưa mười bảy. Bà ấy dạy một đứa làm chết ba vạn. Ta không biết bên nào nhiều máu hơn. Ta chỉ biết bên ta, Hoàn Châu còn đây.
– Còn tới Đông chí năm sau.
– Còn tới Đông chí năm sau, rồi còn nữa. – Ông nói. – Nếu nó thấy viên đan đã ra tinh.
Ông dừng lại trước mặt cô.
– Ta cần con một việc. – Ông nói.
Nhen chờ.
– Ngày lễ, chín người sẽ uống một viên Định Tinh Đan trước khi lên thang. – Ông nói. – Định Tinh Đan giữ cho lửa trong người chúng nó đừng tan trước ngày thứ chín. Lửa tan sớm thì đau. Lửa giữ được tới ngày thứ chín thì chúng nó ngủ, không biết gì. – Ông nhìn cô, cái nhìn hiền như nước ấm. – Định Tinh Đan phải chín vòng. Vòng không đều, đúng như vòng trên viên Hồi Mạch của con. Thiên Thăng Các có hai mươi đan sư, giỏi nhất được bảy vòng. Lô Nhân luyện được chín. Nó đi rồi. Từ đó tới giờ chỉ có con.
– Ông muốn con luyện thuốc cho chín người ngủ trên cái nắp.
– Ta muốn con luyện thuốc cho chín người đừng đau. – Ông nói. – Chuyện chúng nó lên, con không ngăn được. Chúng nó tự bước. Ngọc Đài tự bước. Con không luyện thì chúng nó vẫn lên, chỉ là đau hơn.
Nhen đứng im. Gió thổi qua sân. Ở đâu đó trong dãy nhà trắng có tiếng chuông gió kêu leng keng.
– Con luyện xong, – Mục Trường Thanh nói, – ta thả bà ấy. Bà ấy về Am Lò Nghiêng, con về với bà ấy. Thiên Thăng Các trả lại cái lò. Ta không đụng tới bà ấy nữa, không đụng tới con nữa. Đông chí năm sau qua rồi, Hoàn Châu còn đây, thì bà ấy muốn ghét ta tới bao giờ cũng được.
– Nếu con không luyện?
– Thì bà ấy ở lại đây. – Ông nói, không gắt, không đe. – Tới Đông chí. Khi nắp mở, Chủ Lô sẽ hỏi Lô Đồng. Ta không để bà ấy trả lời lần nữa.
Ông chống gậy trúc, đi về phía hành lang. Tới bậc cửa, ông dừng, không quay lại, giống hệt cái lần ông dừng ở bậc thứ năm Thang Mây.
– Con về nghĩ đi. – Ông nói. – Đan phòng của Thiên Thăng Các ở dãy phía đông. Có đủ lò, đủ dược. Khi nào con muốn, cứ tới. Cửa không đóng.
— Hết chương 25 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe