Chương 21: Ngọc Đài trên Vọng Thiên
– Vậy là tui rèn dao rựa trong một cái nồi cơm. – Kẽm nói. – Cả đời tui. Trong một cái nồi cơm của người ta.
Nó ngồi trên càng xe bò, hai tay cầm sợi dây thừng, mắt nhìn thẳng ra con đường đất đỏ chạy ngoằn ngoèo lên núi. Trên xe chất mười hai cuộn đồng lá, mỗi cuộn to bằng cái cối giã gạo, phủ bạt. Nhen ngồi phía sau, lưng tựa vào một cuộn đồng, đầu quấn khăn rằn của Kẽm, áo vải thô dính bụi than. Trông cô không khác gì đứa phu khuân vác.
Ba ngày trước cô xuống trấn Khói kể cho Kẽm nghe. Không kể hết. Cô kể cái nắp, cái miệng lửa có thanh ghi, cái bóng. Cô kể Lô Đồng. Kẽm nghe xong ngồi im lâu tới mức ông Bảy Đe phải gọi ba lần nó mới nghe. Rồi nó đứng dậy, lấy cái khăn rằn quấn lên đầu cô.
– Muốn lên Vọng Thiên thì đi với xe đồng. – Nó nói. – Thiết Hỏa Môn giao đồng lá cho bên đó mười ngày một chuyến. Anh Sáu đánh xe quen tui từ hồi tui mới vô núi Đe. Ảnh không ưa môn chủ đuổi tui.
Giờ là chiều mùng tám tháng Chín. Anh Sáu đánh xe đi bộ phía trước dắt bò, một tay xách roi, không ngoái lại một lần nào. Ảnh không hỏi Nhen là ai.
– Bà biết cái đống đồng này để làm gì không? – Kẽm hất cằm ra sau.
– Thiên Nhãn.
– Khung Thiên Nhãn. – Nó nói. – Ruột thì đúc xong rồi, tháng Sáu. Lần này ủ chín ngày. Không nứt. – Nó cười, mà không vui. – Nhờ cha bà đó. Bữa ông Kiều Lẫm hỏi chín ngày, về tới núi Đe là thợ cả làm liền.
Nhen không nói gì. Cô nhớ cái nụ cười thật duy nhất của Kiều Lẫm trên bãi Cát Trắng. Bên núi Đe ủ ba ngày. Cảm tạ.
Xe lên tới cổng sau Thiên Thăng Các lúc chạng vạng. Cổng sau không giống cổng chính. Không có cột đèn đá, không có tường trắng. Chỉ có một cái sân đất rộng, mấy dãy xưởng mái ngói, khói bốc lên từ những ống khói thấp, tiếng búa gõ đều. Người ra nhận đồng là mấy thợ áo xám tro, không ai mặc áo trắng. Họ đếm từng cuộn đồng, đóng dấu vào sổ, rồi bảo phu khiêng vào kho.
Nhen với Kẽm khiêng. Cuộn đồng nặng tới mức Nhen phải dồn linh lực xuống hai chân mới không quỵ. Kho đồng nằm cuối dãy xưởng, sát một bức tường đá thấp. Bên kia bức tường, cô nghe tiếng nước chảy.
– Bên kia là Viện Ôn Dưỡng. – Kẽm nói nhỏ. – Thợ ở đây kể. Chín cái phòng quây quanh một cái hồ nước ấm. Người được chọn ở trong đó. Đêm nào cũng có người áo trắng mang thuốc tới.
– Ông chờ tui ở đây.
– Bà điên hả? Tui đi với bà.
– Hai người thì gấp đôi tiếng chân. – Cô nói. – Ông ngồi đây, có ai tới thì ho.
Kẽm nhìn cô, rồi gãi đầu bên phải, rồi ngồi xuống sau một cuộn đồng.
Cô leo lên bức tường. Đá tường mát, nhẵn, có rêu ở chân. Bên kia là một khoảng sân lát đá trắng, giữa sân là một cái hồ hình bầu dục, nước trong và bốc hơi nhẹ, như hồ suối nóng. Quanh hồ là chín gian phòng nhỏ, mái ngói trắng, cửa giấy. Trong mỗi gian có đèn. Ánh đèn hắt ra qua cửa giấy, vàng ấm.
Ngồi trên bờ hồ, hai chân thả xuống nước, là một người con gái mặc áo trắng, tóc buộc một dải lụa đỏ.
Nhen nhảy xuống, đi tới. Ngọc Đài nghe tiếng chân thì quay lại. Cô ta nhìn cái khăn rằn, cái áo bụi than, rồi nhìn mặt Nhen. Cô ta không la lên. Cô ta chỉ thở ra một hơi, như người ta thở ra khi thấy đứa em trốn học đứng ngoài cửa sổ lớp.
– Ta đã dặn ngươi đừng có đứng đó nhìn trời. – Ngọc Đài nói. – Ngươi không nhìn trời. Ngươi leo tường.
– Dạ.
– Ngồi xuống. Đứng vậy người ta thấy.
Nhen ngồi xuống bờ hồ cạnh cô ta. Hơi nước từ mặt hồ bốc lên ấm áp. Gần thế này cô thấy ngay Ngọc Đài khác đi. Không gầy, không xanh. Ngược lại. Da cô ta hồng hào như vừa uống rượu. Đuôi tóc xoăn lại nhiều hơn trước, xoăn tít như bị hơ sát lửa. Ngồi cạnh cô ta, Nhen thấy nóng, nóng như ngồi cạnh một cái lò vừa nhóm, nóng hơn cả cái lần đứng gần cô ta ở đại điện hồi tháng Hai.
– Sư tỷ khỏe không?
– Chưa bao giờ khỏe bằng. – Ngọc Đài nói. – Linh hỏa ta mạnh gấp đôi. Mười ngày ở đây, ta thấy nền ta sắp nứt ra để kết đan. Ở Vân Lô phải ba năm nữa ta mới tới được chỗ này.
Bên cạnh cô ta, trên bờ đá, có một cái chén sứ trắng nhỏ, nắp đậy. Nhen nhìn cái chén.
– Thuốc tối nay hả sư tỷ?
– Ôn Dưỡng Đan. – Ngọc Đài nói. – Ta chưa uống. Ta chờ nước hồ ấm hơn chút.
– Cho em coi được không?
Ngọc Đài nhìn cô một lúc, rồi mở nắp chén. Trong chén là một viên thuốc màu vàng cam, to bằng hạt nhãn, bóng như phủ sáp. Nhen không cầm. Cô kéo mảnh lưu ly ra khỏi cổ áo, áp lên mắt, cúi xuống.
Qua kính, viên thuốc dịu màu đi. Có vòng. Bảy vòng. Đan sư Thiên Thăng Các giỏi thật, cô nghĩ, bảy vòng mà luyện ngày nào cũng ra. Rồi cô nhìn kỹ hơn, và cô thấy cái điều làm lưng cô lạnh toát dưới hơi nóng của hồ nước.
Các vòng không đều. Nhưng không đều ngược.
Vòng ngoài cùng hẹp, sắc, khít như sợi chỉ. Càng vào trong vòng càng rộng. Vòng trong cùng, sát lõi, rộng gấp ba vòng ngoài.
Cô hạ kính xuống, nhìn lại, rồi lại áp kính lên. Không nhầm. Đan thường thì nguội từ ngoài vào, bậc đầu đan còn mềm nên vòng ngoài rộng, càng về sau càng đặc nên vòng trong hẹp. Viên thuốc này thì ngược lại. Vỏ nó đã bị ép cứng thật nhanh, thật chặt, ngay từ bậc đầu. Còn ruột thì để nguội thong thả, rộng rãi, ở bên trong cái vỏ đã đóng kín. Như một cái bình bị ai hắt nước lạnh vào mặt ngoài lúc vừa thổi xong, vỏ đông cứng, ruột còn nóng hổi, cái giận bị nhốt lại bên trong.
Cô cúi xuống ngửi. Mùi Hỏa Linh Chi già. Mùi sáp ong. Và dưới đáy, rất mờ, một mùi như mùi đá lửa vừa đánh. Mùi của Tro Cổ. Mùi của hạt cườm trời tán bột.
– Sư tỷ. – Cô nói. – Thuốc này không chữa gì hết.
– Ôn Dưỡng Đan thì chữa gì? Nó giữ ấm.
– Nó không giữ ấm. Nó đóng cửa. – Nhen chỉ vào viên thuốc. – Vòng ngoài hẹp vì vỏ bị ép đóng trước. Ruột rộng vì ruột được để thong thả bên trong. Người ta luyện nó cho nó đóng cửa. Sư tỷ uống vô, lửa trong người sư tỷ vào được mà không ra được. Linh hỏa sư tỷ không mạnh lên. Nó bị nhốt lại.
Ngọc Đài nhìn cô, rồi nhìn viên thuốc. Cô ta không lấy kính. Lần trước ở Thung Ba Lửa cô ta đã cầm mảnh kính của Nhen để nhìn cây Hỏa Linh Chi. Lần này cô ta không đưa tay ra.
– Ngươi học đan ba năm. – Ngọc Đài nói, giọng vẫn bình thản. – Ngươi biết ôn dưỡng là gì không? Là bước cuối. Đan đã ngưng, đã thu, người ta để nó trong lò ấm thêm mấy ngày cho chín đều từ ngoài vào trong. Không để ấm thì ruột đan sống. Ta mười hai tuổi đã biết.
– Dạ. Là bước cuối của đan. – Nhen nói. – Mà sư tỷ không phải viên đan.
Ngọc Đài im.
Ở gian phòng phía đông, cửa giấy kéo ra. Một đứa con trai chừng mười bảy tuổi, gầy và đen, bước ra, đi tới bờ hồ bên kia, ngồi xuống thả chân vào nước như Ngọc Đài. Nó cũng có một chén sứ trắng bên cạnh. Nó cũng hồng hào như vừa uống rượu. Nó không nhìn sang bên này.
– Thằng nhỏ cửa sông Mân. – Ngọc Đài nói khẽ. – Thiên linh căn kim. Nhà nó đánh cá. Tuần trước nó mới tới, thay chỗ thằng Khải. Nó nói đời nó chưa bao giờ được ăn cơm trắng ba bữa. – Cô ta nhìn sang Nhen. – Ngươi muốn ta đi nói với nó cái chén của nó là cái gì?
– Em muốn sư tỷ đừng uống.
– Đêm nay?
– Đêm nay, mai, mốt.
Ngọc Đài bật cười. Tiếng cười của cô ta nhỏ, không giống tiếng cười sắc như dao hồi ở đại điện.
– Ngươi lên đây bằng xe chở đồng, đội khăn rằn, leo tường. Ngươi kể ta nghe một cái vòng văn ngược. Rồi ngươi bảo ta đừng uống. – Cô ta lắc đầu. – Nhen. Ta đã uống mười ngày. Ta chưa chết. Ta mạnh hơn bao giờ hết. Người ở đây đối đãi với ta tử tế hơn cả Vân Lô. Họ cho người mang thư về nhà cho cha ta. Cha ta trả hết nợ rồi. Cái tiệm có thuốc đầy tủ rồi.
Nhen không biết nói gì. Cô nghĩ tới nắp. Tới những thanh ghi. Cô nghĩ tới việc kể. Nhưng cô nhìn mặt Ngọc Đài, và cô biết, kể ra lúc này thì cũng như kể chuyện ngọn đèn bên giếng Dược Viên. Người ta nghe được từng câu, mà không tin một chữ nào.
Cô nói một chuyện khác.
– Sư tỷ hỏi em sư phụ em đi đâu mỗi sáng. – Cô nói. – Em biết rồi.
Ngọc Đài quay sang.
– Bà ra một cái mỏm đá phía đông. – Nhen nói. – Đứng nhìn mặt trời mọc. Bằng mắt trần. Không chớp mắt lần nào. Năm mươi chín năm, sáng nào cũng ra.
– Để làm gì?
– Để coi lửa. Coi nó đốt mạnh hay yếu.
Ngọc Đài nhìn cô một lúc lâu. Rồi cô ta cười, lần này là cười thật, cười tới mức phải lấy tay che miệng.
– Năm mươi chín năm cả Vân Lô bàn tán. – Cô ta nói. – Người nói bà đi hái thuốc quý, người nói bà luyện công bí truyền, người nói bà có tình nhân dưới trấn. Hóa ra bà già đi coi mặt trời. – Cô ta lau khóe mắt. – Ta tin ngươi chuyện đó.
– Sư tỷ tin chuyện đó mà không tin...
– Chuyện đó thì không ai cần nói dối. – Ngọc Đài nói.
Cô ta cầm cái chén sứ lên. Cô ta nhìn viên thuốc vàng cam nằm trong lòng chén. Nhen nín thở. Ngọc Đài nhìn nó rất lâu. Rồi cô ta đậy nắp chén lại, đặt xuống bờ đá. Không uống. Cũng không đổ đi.
– Ta chờ nước hồ ấm hơn chút. – Cô ta nói lại, như lúc nãy.
Có tiếng ho ở bên kia bức tường. Hai tiếng, khan, cố ý.
Rồi có tiếng bước chân trên lối đá trắng phía cổng viện. Rất nhẹ, nhẹ như không giẫm xuống đất.
Nhen quay lại. Ở cổng viện, dưới ngọn đèn lồng trắng, một người cao gầy, áo trắng đai bạc, tóc búi gọn, mặt trơn như mặt đá, đang đứng nhìn hai người. Hai tay ông ta chắp sau lưng.
Kiều Lẫm.
Ông ta không nói gì một lúc. Ông ta nhìn cái khăn rằn trên đầu Nhen, cái áo bụi than. Ông ta nhìn mảnh lưu ly trên ngực áo cô, nhìn lâu. Rồi ông ta nhìn cái chén sứ đậy nắp trên bờ đá.
– Vị nào ở đó? – Ông ta hỏi. Giọng mềm, lễ độ, như hỏi một người khách đi lạc.
Ngọc Đài đứng dậy trước khi Nhen kịp mở miệng. Nước hồ nhỏ tong tỏng từ chân cô ta xuống đá.
– Người nhà ta. – Ngọc Đài nói. Giọng cô ta lại sắc như dao, cái giọng của đại sư tỷ đan đường đứng trước cả tông. – Ta nhắn về nhà gửi lên mấy vị thuốc bổ cha ta tự sao. Nó đi theo xe đồng lên, ta bảo nó vào đưa tận tay. Thượng sứ có điều gì không vừa ý?
Kiều Lẫm nhìn Ngọc Đài. Rồi ông ta nhìn Nhen. Cái nhìn nhạt màu nước chè loãng của ông ta lướt qua mặt cô như không đặt lên đó, như lần ở Bến Cát Trắng.
– Không. – Ông ta nói. – Tại hạ chỉ sợ trời tối, vị đây lạc đường.
Ông ta lùi ra, nhường lối cổng.
– Xe đồng xuống núi lúc canh năm. – Ông ta nói. – Lần sau vị đây muốn lên thăm, xin cứ đi cổng chính. Thiên Thăng Các không đóng cửa với người nhà của người được chọn. – Ông ta dừng lại một chút. – Hay với học trò của Ung Lộ.
— Hết chương 21 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe